- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và con chung"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN TP Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TỈNH BT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2023/HNGĐ-ST. Ngày: 15-9-2023. V/v: Tranh chấp ly hôn và con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP
TỈNH BT
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán– Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Huyền
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Hưng Quang
2. Bà Trần Thị Hà
-Thư kY1 phiên tòa: Ông Phan Hoài Trọng – Thư kY1 Tòa án nhân dân huyện TP.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Ngà – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TP xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lY1 số: 294/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15-8-2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 31-8-2023, đối với các đương sự:
- Nguyên đơn: Huỳnh Thị Kim Y1, sinh năm 1994;
Địa chỉ: khu phố TG 1, TT PRC, TP, BT.
- Bị đơn: Trần Ngọc T1, sinh năm 1993;
Địa chỉ: khu phố HT 1, TT PRC, TP, BT.
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo đơn khởi kiện ly hôn, nguyên đơn Huỳnh Thị Kim Y1 trình bày: bà Y1 và ông Trần Ngọc T1 tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2010 và đăng kY1 kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn PRC vào ngày 09 tháng 6 năm 2015. Trong suốt thời kỳ hôn nhân, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, chung sống không có hạnh phúc do ông T1 không có trách nhiệm với gia đình. Bà Y1 và ông T1 không còn chung sống với nhau từ năm 2019 đến nay. Do hôn nhân không có hạnh phúc, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm đến nhau. Nay, bà Y1 xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hôn nhân không đạt được mục đích nên đề nghị ly hôn với ông T1. Vợ chồng có 02 (hai) con chung tên Trần Ngọc Yên, sinh ngày 17-9-2010 và Trần Huỳnh Ngọc Trang, sinh ngày 22-10-2019 đang do bà Y1 trực tiếp nuôi dưỡng nên bà Y1 yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con, không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung, bà Y1 không yêu cầu giải quyết.
2. Đối với bị đơn- ông Trần Ngọc T1, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lY1 vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông T1 từ chối không đến Tòa án để giải quyết nên không thể lấy lời khai và hòa giải được.
3. Y1 kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư kY1 trong quá trình giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, đề nghị tuyên xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, giao 02 (hai) con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, ông T1 không cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng: bà Huỳnh Thị Kim Y1 có đơn đề nghị giải quyết việc hôn nhân giữa ông với ông Trần Ngọc T1 - có nơi thường trú tại khu phố HT 1, thị trấn PRC, huyện TP, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TP. Sau khi thụ lY1 vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập, yêu cầu ông T1 đến Tòa để lấy lời khai, hòa giải và thực hiện các thủ tục tố tụng khác nhưng ông T1 không chấp hành. Do đó, Tòa án không thể tiến hành hòa giải theo thủ tục chung và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn Huỳnh Thị Kim Y1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn Trần Ngọc T1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử nhận thấy: bà Huỳnh Thị Kim Y1 và ông Trần Ngọc T1 tự nguyện chung sống với nhau, có đăng kY1 kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn PRC, huyện TP theo Giấy chứng nhận kết hôn số 134/2015, ngày 09-6-2015 nên hôn nhân giữa bà Y1 và ông T1 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần thông báo cho ông T1 đến giải quyết nhưng ông T1 không chấp hành, điều này chứng tỏ ông T1 không có thiện chí và không có mong muốn hàn gắn gia đình. Hơn nữa, thực tế bà Y1 và ông T1 đã không còn chung sống với nhau từ năm 2019 đến nay. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa bà Y1 và ông T1 không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Y1.
Về con chung: 02 (hai) con chung tên Trần Ngọc Yên, sinh ngày 17 - 9 -2010 và Trần Huỳnh Ngọc Trang, sinh ngày 22-10-2019, đang do bà Y1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T1 không có Y1 kiến gì về con chung nên Hội đồng xét xử sẽ giao hai con chung cho bà Y1 tiếp tục nuôi dưỡng. Bà Y1 không có yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét việc đóng góp phí tổn nuôi con chung đối với ông T1.
Tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lY1 và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông Phan Văn Hưng phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì caùc leõ treân,
QUYEÁT ÑÒNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a, Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lY1 và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Kim Y1 đối với ông Trần Ngọc T1. Giấy chứng nhận kết hôn số 134/2015, ngày 09-6-2015 của Ủy ban nhân dân thị trấn PRC, huyện TP, BT hết hiệu lực kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung Trần Ngọc Yên, sinh ngày 17-9-2010 và Trần Huỳnh Ngọc Trang, sinh ngày 22-10-2019 cho bà Huỳnh Thị Kim Y1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Ngọc T1 không cấp dưỡng nuôi con chung do bà Huỳnh Thị Kim Y1 không yêu cầu. Ông Trần Ngọc T1 được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
3. Về án phí: bà Huỳnh Thị Kim Y1 phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0017179 ngày 12-7-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TP.
4. Quyền kháng cáo: bà Huỳnh Thị Kim Y1 và ông Trần Ngọc T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc niêm yết Bản án.
| Nơi nhận: -VKSND BT; -VKSND TP; -THADS huyện TP; -Nguyên đơn;bị đơn; -Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thu Huyền |