- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ngọc H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27 – 4 – 2023 V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bạch Phiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Khon;
2. Ông Lê Văn Dài.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhàn – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 375/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1976. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Phúc T, sinh năm 1977. Vắng mặt lần thứ hai, không rõ lý do.
Cùng địa chỉ: Số nhà G, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc H trình bày:
Chị Trần Thị Ngọc H và anh Lê Phúc T chung sống với nhau có tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán địa phương năm 1997, có đăng ký kết hôn ngày 30/8/2006, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Trước khi tổ chức đám cưới, anh chị không có quen biết, tìm hiểu nhau trước, mà thông qua mai mối mới cưới nhau. Việc anh chị kết hôn là tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối kết hôn.
Thời gian đầu sau khi đám cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Cách nay khoảng 07 đến 08 năm, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong việc làm ăn, anh T tham gia tệ nạn xã hội, dẫn đến nợ nần cờ bạc, vợ chồng thường hay cự cãi. Ngoài ra, anh T còn ngoại tình, chung sống với người phụ nữ khác. Vợ chồng có hàn gắn tình cảm vài lần, nhưng không được. Chị và anh T đã ly thân từ cuối năm 2015 đến nay. Từ khi ly thân đến nay, vợ chồng không có hàn gắn tình cảm với nhau. Hiện nay, chị không còn tình cảm vợ chồng với anh T.
Chị H và anh T có 02 con chung tên Lê Minh T1, sinh ngày 13/8/1998 và Lê Thị Xuân N, sinh ngày 20/01/2006. Hiện nay, Lê Minh T1 đã thành niên và có khả năng lao động, còn cháu Lê Thị Xuân N đang sống với chị H.
Chị Trần Thị Ngọc H yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc H yêu cầu ly hôn với anh Lê Phúc T.
- Về con chung: Chị Trần Thị Ngọc H yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu Lê Thị Xuân N, sinh ngày 20/01/2006 đến khi cháu N thành niên, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có; không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Phúc T không có ý kiến trình bày.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, cần phê phán rút kinh nghiệm.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ngọc H: Cho chị Trần Thị Ngọc H được ly hôn với anh Lê Phúc T; Giao cháu Lê Thị Xuân N, sinh ngày 20/01/2006 cho chị Trần Thị Ngọc H được quyền nuôi dưỡng đến khi cháu thành niên; Anh Lê Phúc T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu; Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
* Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm: Đơn khởi kiện ngày 20/7/2022 của chị Trần Thị Ngọc H; Trích lục kết hôn giữa chị Trần Thị Ngọc H và anh Lê Phúc T; Giấy khai sinh của Lê Minh T1 và Lê Thị Xuân N; Bản khai của cháu Lê Thị Xuân N; Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 03/02/2023 và Biên bản xác minh ngày 17/3/2023.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Theo yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ngọc H và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Lê Phúc T cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Lê Phúc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, không rõ lý do; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Lê Phúc T là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc H và anh Lê Phúc T đăng ký kết hôn ngày 30/8/2006, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Việc anh chị kết hôn là tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối kết hôn. Việc kết hôn giữa chị Trần Thị Ngọc H và anh Lê Phúc T là đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Theo trình bày của chị Trần Thị Ngọc H thì trong thời gian anh chị chung sống với nhau phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong việc làm ăn, anh Lê Phúc T tham gia tệ nạn xã hội, không chung thủy; anh chị đã ly thân từ năm 2015 đến nay, trong thời gian này, anh chị không có hàn gắn tình cảm với nhau; Hiện nay, chị Trần Thị Ngọc H không còn tình cảm vợ chồng với anh Lê Phúc T. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Lê Phúc T nhiều lần để hòa giải, nhưng anh Lê Phúc T không đến Tòa án để hòa giải và trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị Trần Thị Ngọc H. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; nhưng từ những phân tích trên cho thấy, anh chị đã không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Điều này chứng minh, hôn nhân giữa chị Trần Thị Ngọc H và anh Lê Phúc T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Ngọc H đối với anh Lê Phúc T là phù hợp.
Về con chung: Chị Trần Thị Ngọc H và anh Lê Phúc T có 02 con chung tên Lê Minh T1, sinh ngày 13/8/1998 và Lê Thị Xuân N, sinh ngày 20/01/2006. Xét thấy, cháu Lê Thị Xuân N có nguyện vọng được sống với chị Trần Thị Ngọc H; Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Phúc T không có yêu cầu được quyền nuôi con. Vì vậy, để tránh việc thay đổi môi trường sống của cháu Lê Thị Xuân N, đảm bảo cho cháu được phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần, tiếp tục giao cháu Lê Thị Xuân N cho chị Trần Thị Ngọc H được quyền nuôi dưỡng đến khi cháu thành niên là phù hợp.
Đối với Lê Minh T1, sinh ngày 13/8/1998 hiện nay đã thành niên, có khả năng lao động, chị Trần Thị Ngọc H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con:
Chị Trần Thị Ngọc H không yêu cầu anh Lê Phúc T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị Ngọc H cho rằng anh chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Anh Lê Phúc T không có ý kiến và yêu cầu gì về tài sản chung và nợ chung; Nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này; Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Chị Trần Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 69, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ngọc H.
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc H được ly hôn với anh Lê Phúc T.
- Về con chung:
Giao cháu Lê Thị Xuân N, sinh ngày 20/01/2006 cho chị Trần Thị Ngọc H được quyền trực tiếp nuôi con.
Anh Lê Phúc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Anh Lê Phúc T không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị Trần Thị Ngọc H không yêu cầu.
Đối với Lê Minh T1, sinh ngày 13/8/1998 hiện nay đã thành niên, có khả năng lao động, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí:
Chị Trần Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016059 ngày 19/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Chị Trần Thị Ngọc H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Lê Phúc T không phải chịu án phí.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Thanh Bình; - Chi cục THADS huyện Thanh Bình; - UBND xã Tân Thạnh, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp (ĐKKH số 112, ngày 30/8/2006); - TAND tỉnh Đồng Tháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Bạch Phiến |