vanban.org

Bản án 79/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Kim T. Bà Thạch Kim T được ly hôn với ông Huỳnh Tấn P.

Về con chung: giao cháu Huỳnh Gia N, sinh ngày 08/4/2009; Huỳnh Trung H, sinh ngày 02/01/2011; Huỳnh Trung T, sinh ngày 11/6/2013; Huỳnh Thạch Hiền V, sinh ngày 03/8/2015; Huỳnh Thế P, sinh ngày 04/01/2019 cho bà Thạch Kim T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyên đơn Thạch Kim T, bị đơn Huỳnh Tấm P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Kim T. Bà Thạch Kim T được ly hôn với ông Huỳnh Tấn P.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG TRÔM
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 09-6-2023.
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: bà Đỗ Thị Mộng Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Văn Te.

2. Ông Nguyễn Xuân Nhàn.

- Thư ký phiên toà: ông Phan Thành Trung – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: bà Huỳnh Thị Duyên Em – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 100/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Thạch Kim T, sinh năm 1990.

Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: ông Huỳnh Tấn P, sinh năm 1986.

Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên tòa, bà T có mặt, ông P vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai của đương sự, nguyên đơn là bà Thạch Kim T trình bày:

Bà và ông Huỳnh Tấn P chung sống với nhau từ năm 2008, đến năm 2011 ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện C, tỉnh Cà Mau ngày 18/3/2011. Sau khi kết hôn, ông bà sinh sống tại tỉnh Cà Mau đến năm 2021, ông bà về sống tại tỉnh Bến Tre. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên tranh cãi, ông P không chăm lo cho gia đình, hay dùng lời nói xúc phạm bà. Mâu thuẫn giữa ông bà ngày càng gay gắt nên ông bà không chung sống với nhau cách nay 06 tháng. Hiện bà không còn tình cảm vợ chồng với ông P, bà và ông P không thể hàn gắn hạnh phúc gia đình nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông P.

Bà và ông P có 05 người con chung là Huỳnh Gia N, sinh ngày 08/4/2009; Huỳnh Trung H, sinh ngày 02/01/2011; Huỳnh Trung T2, sinh ngày 11/6/2013; Huỳnh Thạch Hiền V, sinh ngày 03/8/2015; Huỳnh Thế P, sinh ngày 04/01/2019. Hiện các con chung đang sống với bà, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con, yêu cầu ông P cấp dưỡng cho con theo quy định pháp luật với mức cấp dưỡng hàng tháng cho mỗi người con là 745.000 đồng (bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Bà và ông P không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã thông báo và tổ chức các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, đồng thời mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng ông P đều vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của bà T.

Tại phiên tòa, bà T trình bày do ông P hay ghen, không lo làm ăn nên vợ chồng sống không hạnh phúc. Từ đầu năm 2023 cho đến nay ông bà không chung sống với nhau. Thời gian qua ông P cũng không chu cấp tiền để bà nuôi con. Bà nhận thấy bà và ông P không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn bà Thạch Kim T đã tuân thủ và thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Bị đơn ông Huỳnh Tấn P không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Như vậy, ông P không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Kim T.

- Về hôn nhân: bà Thạch Kim T được ly hôn với ông Huỳnh Tấn P.

- Về con chung: bà Thạch Kim T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 05 người con chung là Huỳnh Gia N, sinh ngày 08/4/2009; Huỳnh Trung H, sinh ngày 02/01/2011; Huỳnh Trung T2, sinh ngày 11/6/2013; Huỳnh Thạch Hiền V, sinh ngày 03/8/2015 và Huỳnh Thế P, sinh ngày 04/01/2019.

Buộc ông Huỳnh Tấn P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 745.000 đồng (bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng)/tháng/cháu.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng cho con.

Ông P có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về tài sản chung, nợ chung: bà Thạch Kim T trình bày không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Thạch Kim T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre giải quyết ly hôn và tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Huỳnh Tấn P. Ông P cư trú tại xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Ông Huỳnh Tấn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông P.

[2] Về quan hệ hôn nhân: bà T và ông P tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 18 tháng 3 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện C, tỉnh Cà Mau nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

Tuy nhiên, theo lời trình bày của bà T thì bà T và ông P phát sinh mâu thuẫn nhưng không tự giải quyết được. Ông bà không chung sống với nhau từ đầu năm 2023 cho đến nay. Từ khi bà T nộp đơn khởi kiện cho đến nay, bà T và ông P không cải thiện được tình cảm vợ chồng để kéo dài đời sống chung. Đồng thời với yêu cầu xin ly hôn của bà T, ông P không có ý kiến phản đối, bỏ mặc cho bà T tự giải quyết.

Xét thấy, giữa bà T và ông P không còn tình nghĩa vợ chồng vì không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Bên cạnh đó, ông bà đã không chung sống với nhau trong thời gian dài. Từ đó có đủ cơ sở khẳng định hôn nhân của bà T và ông P lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T để giải quyết cho bà T được ly hôn với ông P.

[3] Về con chung: theo hồ sơ vụ án và lời trình bày của bà T thì bà T và ông P có 05 người con chung là Huỳnh Gia N, sinh ngày 08/4/2009; Huỳnh Trung H, sinh ngày 02/01/2011; Huỳnh Trung T2, sinh ngày 11/6/2013; Huỳnh Thạch Hiền V, sinh ngày 03/8/2015; Huỳnh Thế P, sinh ngày 04/01/2019, hiện các con chung đang sống với bà T. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn, ông P không có ý kiến phản đối.

Xét thấy, các con chung của bà T và ông P hiện đang sống với bà T. Tòa án tiến lấy ý kiến của các con chung từ đủ 07 tuổi đến dưới 18 tuổi đối với cháu N, cháu H, cháu T2, cháu V, các cháu cho rằng được bà T chăm sóc tốt và các cháu đều có nguyện vọng được tiếp tục sống với bà T. Về phía ông P thì không có yêu cầu được nuôi con chung sau khi ly hôn. Vì vậy, nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của trẻ, Hội đồng xét xử giao cháu N, cháu H, cháu T2, cháu V, cháu P cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về việc cấp dưỡng cho con: theo quy định tại khoản 2 Điều 82 và khoản 1 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, bà T có quyền yêu cầu ông P thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Bà T yêu cầu ông P cấp dưỡng cho mỗi người con chung với mức cấp dưỡng hàng tháng theo quy định pháp luật là ½ mức lương cơ bản với số tiền 745.000 đồng (bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng). Ông P không có ý kiến phản đối yêu cầu cấp dưỡng cho con của bà T. Vì vậy, việc bà T yêu cầu ông P cấp dưỡng cho con với mức cấp dưỡng hàng tháng với số tiền 745.000 đồng (bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: bà T trình bày bà và ông P không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với ông P thì vắng mặt, không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm là phù hợp nên được chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các khoản 5, 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Ông P phải chịu án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các khoản 5, 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Kim T. Bà Thạch Kim T được ly hôn với ông Huỳnh Tấn P.

2. Về con chung: giao cháu Huỳnh Gia N, sinh ngày 08/4/2009; Huỳnh Trung H, sinh ngày 02/01/2011; Huỳnh Trung T, sinh ngày 11/6/2013; Huỳnh Thạch Hiền V, sinh ngày 03/8/2015; Huỳnh Thế P, sinh ngày 04/01/2019 cho bà Thạch Kim T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.

Buộc ông Huỳnh Tấn P cấp dưỡng cho các cháu Huỳnh Gia N, sinh ngày 08/4/2009; Huỳnh Trung H, sinh ngày 02/01/2011; Huỳnh Trung T2, sinh ngày 11/6/2013; Huỳnh Thạch Hiền V, sinh ngày 03/8/2015; Huỳnh Thế P, sinh ngày 04/01/2019 với mức cấp dưỡng hàng tháng cho mỗi cháu là 745.000 đồng (bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) cho đến khi đủ 18 tuổi.

Ông Huỳnh Tấn P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi mức cấp dưỡng cho con.

Trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: bà Thạch Kim T trình bày bà và ông Huỳnh Tấn P không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với ông Huỳnh Tấn P thì vắng mặt, không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc bà Thạch Kim T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003194 ngày 20 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Buộc ông Huỳnh Tấn P phải chịu án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử Pc thẩm. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ