vanban.org

Bản án 79/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Ka Hạng và ông Đa Bít được ly hôn.

Về án phí: Bà Ka Hạng chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0014138 ngày 17-7-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh.(bà Hạng đã nộp đủ án phí). Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, các đương … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hạng - Bít"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Ka Hạng và ông Đa Bít được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DI LINH
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 26-9-2023.
V/v: Xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đới Văn Học.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đào Duy Trâm;

Ông Vũ Văn Toán.

- Thư ký phiên tòa: Bà Giáp Thị Thu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh tham gia phiên tòa: Ông K’ Dem – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 230/2023/TLST- HNGĐ ngày 17-7-2023 về việc: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30-8-2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 49/2023/QĐST-DS ngày 15-9-2023; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Ka Hạng; sinh năm 2001. Địa chỉ: Số 223 thôn 3, xã Tân Thượng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Ông Đa Bít; sinh năm 1998. Địa chỉ: Thôn 5, xã Liên Đầm, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

Bà Hạng vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Bít vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai, bà Ka Hạng trình bày: Bà và ông Đa Bít tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2021, năm 2022 mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thượng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau. Từ đó đến nay đã sống ly thân. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung, hiện nay bà không có thai nghén gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung; tài sản cho vay chung và tài sản nợ chung không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, ông Đa Bít đều vắng mặt nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử cho bà Ka Hạng được ly hôn ông Đa Bít; Bà Ka Hạng chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu và xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa hôm nay, bà Ka Hạng là nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Đa Bít là bị đơn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Ka Hạng ông Đa Bít tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2021, năm 2022 mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thượng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau. Từ đó đến nay đã sống ly thân. Bà Ka Hạng xác định hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Ông Đa Bít không đến Tòa lần nào nên không có lời trình bày về nội dung này. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Ka Hạng và ông Đa Bít đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Ka Hạng cương quyết xin ly hôn. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử cho bà Ka Hạng và ông Đa Bít được ly hôn là phù hợp.

Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung, hiện nay bà không có thai nghén gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông Đa Bít không đến Tòa nên không có lời trình bày về nội dung này nên không đề cập giải quyết là phù hợp.

Về tài sản: Bà Ka Hạng trình bày vợ chồng không có tài sản chung; tài sản cho vay chung và nợ chung không có, khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản; ông Đa Bít không đến Tòa nên không có lời trình bày về nội dung này nên không đề cập giải quyết về tài sản là phù hợp.

Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bà Ka Hạng phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 144; Điều 147; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1) Về quan hệ hôn nhân: Bà Ka Hạng và ông Đa Bít được ly hôn.

2) Về án phí: Bà Ka Hạng chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0014138 ngày 17-7-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh.(bà Hạng đã nộp đủ án phí).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ