vanban.org

Bản án 79/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước Tuyên án 01/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán trái phép CMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2022/HS-ST
Ngày: 17/8/2022

NHÂN DA

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƢỚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị ThA Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông La Văn Hợp và ông Nguyễn Văn Đƣợc

-Thư ký phiên tòa: Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Quản Văn ThA - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2022 và đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Lê Văn H; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh năm 1999; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố Ninh Thành, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở: Ấp M Tâm, xã B, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Rửa xe; Con ông: Nguyễn Lê M, sinh năm 1971 (còn sống); Con bà: Văn Thị Mỹ H, sinh năm 1977 (còn sống); Có 01 em sinh năm 2000, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2022 cho đến nay.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Lê M, Sinh năm 1971; Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).

Người làm chứng:

1. Bà Phạm Thị ThA T, Sinh năm 2003; Địa chỉ: Ấp 3, xã N, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước (vắng mặt)

2. Ông Lê Đức A, Sinh năm 1983; Ấp 4, xã B, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16h00’ ngày 05/02/2022, Nguyễn Lê Văn H được Hậu (không rõ nhân thân lai lịch) cho 01 gói nylon bên trong có 09 viên pháo (dạng pháo bi). H cất số pháo trên vào túi xách màu đỏ của H rồi để trên xe mô tô biển số 93F1-36910 (xe của ông Nguyễn Lê M). Khoảng 19h00’ ngày 06/02/2022, do là người nghiện ma túy nên H nảy sinh ý định mua ma túy về cất giấu để sử dụng dần. H điều khiển xe mô tô biển số 93F1-36910 đến chợ Lộc Điền thuộc xã Lộc Điền, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước gặp K’Nuôi (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 200.000 đồng ma túy tổng hợp dạng đá thì K’Nuôi đồng ý. H đưa cho K’Nuôi số tiền 200.000 đồng, K’Nuôi đưa cho H 01 đoạn ống hút màu trắng được hàn kín 02 đầu bên trong chứa ma túy. H mang số ma túy mua được đi về nhà tại khu phố Ninh Thành, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Đến khoảng 14h30’ ngày 07/02/2022, H lấy đoạn ống hút chứa ma túy mua của K’Nuôi cho vào ví da màu đen rồi để trong túi quần bên phải phía sau chiếc quần H đang mặc rồi điều khiển xe mô tô biển số 93F1-36910 (trên xe có túi xách màu đỏ bên trong có 09 viên pháo xin của Hậu) đến gặp và rủ Phạm Thị ThA T về nhà của T tại xã Tân Lập, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước, chơi thì T đồng ý. Khi đi đến khu vực thuộc ấp 2, xã Tân Thành, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, H và T ghé vào quán hủ tiếu không tên để ăn thì lực lượng Công an thành phố Đồng Xoài kết hợp với Công an xã Tân Thành kiểm tra hành chính phát hiện trong ví da màu đen của H để trong túi quần bên phải phía sau có 01 đoạn ống hút màu trắng được hàn kín hai đầu có kích thước (3 x 0,5)cm chứa tinh thể màu trắng (H khai nhận là ma túy đá) và trong túi xách màu đỏ của H có 01 gói nylon chứa 09 viên nén hình cầu (H khai là pháo nổ) nên lực lượng Công an đã tạm giữ số tang vật trên và lập biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ.

Tại bản kết luận giám định số 47/2022/GĐ-MT ngày 11/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong 01 đoạn ống hút nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng là 0,1165 gam. Methamphetamine là chất ma túy thuộc dA mục IIC, số thứ tự 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Việc thu giữ tài liệu, đồ vật: 01 đoạn ống hút màu trắng được hàn kín hai đầu có kích thước (3 x 0,5)cm chứa tinh thể màu trắng; 09 viên nén hình cầu đường kính 02cm và 01 xe mô tô biển số 93F1-36910.

Ngày 07/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Xoài ra quyết định xử lý vật chứng số 16, trả lại 01 xe mô tô biển số 93F1- 36910 cho ông Nguyễn Lê M

Tại cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Bản cáo trạng số: 67/CT-VKS-ĐX ngày 29 tháng 6 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo Nguyễn Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa giữ quyền công tố, phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội dA và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Nguyễn Lê Văn H từ 12 đến 15 tháng tù.

Về vật chứng của vụ án: tịch thu tiêu hủy 01 bì thư đựng ma túy ký hiệu số 47 ngày 08/02/2022 còn lại sau giám định được Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước niêm phong đóng dấu và 09 viên pháo nổ đã được niêm phong.

Về án phí: Áp dụng điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Lê Văn H tại phiên tòa đã cáo thừa nhận hành vi như nội dung bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không trA luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Lê Văn H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để xác định: Ngày 06/02/2022, Nguyễn Lê Văn H mua 200.000đồng ma túy của K’Nuôi đem về cất giấu để sử dụng dần. Ngày 07/02/2022, lực lượng Công an thành phố Đồng Xoài kết hợp với Công an xã Tân Thành kiểm tra hành chính phát hiện H cất giấu 0,1165 gam Methamphetamine tại xã Tân Thành, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Lê Văn H mua 200.000 đồng ma túy của K’Nuôi đem về cất giấu để sử dụng dần. Ngày 07/02/2022, lực lượng Công an thành phố Đồng Xoài kết hợp với Công an xã Tân Thành kiểm tra hành chính phát hiện H cất giấu 0,1165 gam Methamphetamine tại xã Tân Thành, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Xét thấy tính chất vụ án là nghiêm trọng, ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, nó hủy hoại sức khỏe của con người, là nguồn gốc phát sinh ra nhiểu loại tội phạm khác trong xã hội, làm tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình có người thân mắc nghiện. Vì những tác hại của ma túy nên Đảng và Nhà nước ta cũng như các Quốc gia khác trên thế giới đều kiên quyết bài trừ ra khỏi đời sống xã hội, pháp luật xử lý rất nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Bản thân bị cáo biết rất rõ tác hại của ma túy và đường lối xử lý của pháp luật, song do nghiện ma túy và coi thường pháp luật, nên bị cáo đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, tiếp tay cho tệ nạn ma túy ngày càng phát triển, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và phải có mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, thái độ tỏ ra ăn năn hối cải, bố bị cáo là người có công với cách mạng nên cần thiết áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo.

Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo còn phải chịu thêm hình phạt bổ sung bằng tiền được quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự. Song xét thấy bị cáo không nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên tha miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Về vật chứng: 01 bì thư đựng ma túy ký hiệu số 47 ngày 08/02/2022 còn lại sau giám định được Phòng KTHS Công an tỉnh Bình Phước niêm phong đóng dấu và 09 viên pháo nổ đã được niêm phong có liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội dA:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 54 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Văn H 09 (Chín) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2022.

2. Về vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư đựng ma túy ký hiệu số 47 ngày 08/02/2022 còn lại sau giám định được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước niêm phong đóng dấu và 09 viên pháo nổ đã được niêm phong trong bì thư có chữ ký của Bùi Xuân Đồng công an xã Tân Thành và mộc đỏ của Công an xã Tân Thành.

(Theo biên bản giao vật chứng số 0002003, quyển số 0041 ngày 06/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4.Về Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ