- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tráng Thị S - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tráng Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÀO CAI Bản án số: 79/2022/HS-ST Ngày 28 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Nghĩa;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Trọng Trung và ông Lê Hoàng Chuân;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 75/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2022 đối với:
- Bị cáo: Tráng Thị S, sinh ngày 13 tháng 12 năm 1982, tại huyện M, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện V, Lào Cai; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông ; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 0/12; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Tốt; Con ông Tráng Xa T - sinh năm 1953; Con bà Thào Thị S - sinh năm 1954, hiện đều trú tại xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai; Bị cáo có chồng: Giàng Xuân S - sinh năm 1981; Bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2013. Hiện đều trú tại xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ” từ ngày 09/11/2022 đến ngày 15/11/2022; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” từ ngày 15/11/2022 đến ngày 08/03/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện V. tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
- Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Hầu Seo S - sinh năm 1988, Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai; Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Anh Tráng A C, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai; Vắng mặt không có lý do;
- Người chứng kiến:
1, Bà Vi Thị P, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai;
2, Anh Tráng A G, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai. Những người chứng kiến đều vắng mặt, không có lý do;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 15 phút, ngày 09/11/2022, Đội điều tra tổng hợp Công an huyện Văn Bàn nhận được tin báo, tại nhà Tráng Thị S, ở thôn N, xã K, huyện V, có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Đội điều tra tổng hợp Công an huyện Văn Bàn đã triển khai lực lượng đến nhà S và phát hiện S đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Tráng A C - sinh năm 1988, trú cùng thôn. Tổ công tác yêu cầu Tráng A C và Tráng Thị S có đồ vật gì liên quan đến hành vi phạm tội về ma túy thì tự giác giao nộp. C đã tự giác lấy từ túi áo khoác bên phải đang mặc ra 01 gói giấy bạc mầu trắng bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục giao nộp và khai nhận là ma túy vừa mua của S. Tráng Thị S cũng tự giác lấy từ túi vải dệt thổ cẩm có hoa văn màu xanh – đỏ đeo ngang hông ra 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng giao nộp, khai nhận là tiền vừa bán ma túy cho C mà có và 01 túi Zíp bằng nilon màu trắng bên trong có 07 gói giấy bạc mầu trắng bên trong các gói đều chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục; lấy từ bao tải đựng chăn ở góc cửa nhà phía bên phải hướng từ ngoài vào 01 lọ nhựa có nắp bằng inox màu trắng, bên trong có 01 gói nilon màu xanh, trong gói ni lon màu xanh có 40 gói giấy bạc mầu trắng và 01 gói nilon màu hồng, trong tất cả các gói đều chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục. S khai nhận tất cả đều là ma túy tàng trữ để bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định. Tiến hành khám xét chỗ ở của Tráng Thị S, thu giữ 01 lưỡi dao lam mầu trắng cũ đã qua sử dụng.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, Tráng Thị S khai nhận: Chiều ngày 04/11/2022, tại đường liên thôn xã K đi thôn N, S đã mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 01 gói ma túy với giá 2.500.000 đồng mục đích để bán kiếm lời, đến ngày 08/11/2022 S dùng dao lam chia tách được 49 gói (48 gói gói bằng giấy bạc mầu trắng, 01 gói gói bằng nilon mầu hồng), S cất 40 gói bằng giấy bạc mầu trắng và 01 gói bằng nilon mầu hồng vào 01 lọ nhựa có nắp bằng Inox và cất lọ nhựa vào trong bao tải đựng chăn ở góc cửa nhà phía bên phải; còn 08 gói bằng giấy bạc mầu trắng cho vào túi Zíp bằng nilon mầu trắng cất vào túi thổ cẩm đeo trên người, đến ngày 09/11/2022 bán cho Tráng A C 01 gói thì bị bắt.
Bản kết luận giám định số 294/KL-GĐMT ngày 15/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 0,02 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Tráng A C và 6,25 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Tráng Thị S gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.
Bản cáo trạng số: 77/CT-VKS -VB ngày 20 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Tráng Thị S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Tráng Thị S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án tóm tắt nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai trình bày quan điểm luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tráng Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Tráng Thị S từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xử lý vật chứng, tuyên án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì. Khi nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Tráng Thị S tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của bị cáo, người chứng kiến trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 04/11/2022, bị cáo Tráng Thị S đã thực hiện hành vi mua bán trái phép 6,27 gam Heroine của một người đàn ông không quen biết với giá 2.500.000 đồng mục đích để bán kiếm lời, ngày 08/11/2022 S dùng dao lam chia tách được 49 gói (48 gói gói bằng giấy bạc mầu trắng, 01 gói gói bằng nilon mầu hồng), Đến ngày 09/11/2022 bán cho Tráng A C 01 gói với giá 100.000đồng thì bị bắt quả tang. Vì vậy, Bản cáo trạng số 77/CT-VKS ngày 20 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Tráng Thị S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về hình phạt:
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Bị cáo Tráng Thị S là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó gây mất trật tự trị an tại địa phương.Bị cáo là người phụ nữ, người vợ, người mẹ trong gia đình bị cáo hiểu rất rõ tác hại của ma túy đối với con người, gia đình và xã hội, nhưng do hám lời bị cáo cố tình phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần giảm nhẹ một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Sau khi cân nhắc các căn cứ quyết định hình phạt đã phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo trở thành người công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo Tráng Thị S mức án như nêu trên là phù hợp, nên được chấp nhận.
[4 ]Về hình phạt bổ sung: Mặc dù gia đình bị cáo thuộc diện cận hộ nghèo, tuy nhiên xét thấy bản thân bị cáo 01 lần bỏ ra số tiền 2.500.000 đồng mua ma túy về với mục đích chia nhỏ để bán kiếm lời, thu lợi bất chính. Vì vậy, để nâng cao tính răn đe, phòng ngừa tội phạm chung, cần xử phạt bị cáo một khoản tiền để nộp ngân sách nhà nước là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng vụ án, gồm: 6,27 gam Heroine, cơ quan giám định đã lưu mẫu 0,54 gam, còn 5,73 gam Heroine cùng toàn bộ niêm phong cũ đã tái niêm phong; 01 mảnh giấy bạc cùng bì niêm phong cũ đã tái niêm phong; 01 lưỡi dao lam mầu trắng cũ đã qua sử dụng; 01 túi vải dệt thổ cẩm có hoa văn màu xanh – đỏ. Đây là vật bị Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và là vật không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu hủy.
Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ của Tráng Thị S do phạm tội mà có, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Về tình tiết khác của vụ án: Đối với Tráng A C là người nghiện chất ma túy, ngày 09/11/2022 mua 0,02 gam Heroine của Tráng Thị S để sử dụng. Công an huyện Văn Bàn đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Tráng Thị S quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Tráng Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Tráng Thị S 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 09/11/2022.
Xử phạt bổ sung bị cáo Tráng Thị S 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu: 5,73 gam Heroine và niêm phong cũ đựng trong 01 (Một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, trên một mặt của bì có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Tráng Thị S ngày 09/11/2022 tại xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai”. Mặt còn lại của bì có các chữ ký và dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai; 01 (Một) Mảnh giấy bạc đựng trong 01 (Một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, trên một mặt của bì có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Tráng A C ngày 09/11/2022 tại xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai”. Mặt còn lại của bì có các chữ ký và dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai; 01 (Một) lưỡi dao lam màu trắng cũ đã qua sử dụng; 01 (Một) túi vải dệt thổ cẩm có hoa văn màu xanh – đỏ cũ đã qua sử dụng. Để tiêu hủy.
Tịch thu số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Tráng Thị S để nộp ngân sách Nhà nước.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/11/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Bàn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Tráng Thị S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Tráng Thị S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, điều 7, điều 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh LC (1); - VKSND tỉnh LC (1); - VKSND huyện VB (1); - CQCSĐT Công an huyện VB (1); - CQTHAHS Công an huyện VB (1); - Sở tư pháp tỉnh LC(1); - CC THADS (1); - Bị cáo (1); - THAHS Tòa án (04); - Lưu Tòa án (05). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Nghĩa |