- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Thế V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyªn bè: BÞ cáo Nguyễn Thế V ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2022/HS-ST Ngày 28-9-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Văn Trung
2. Bà Vũ Thị Khánh Hòa
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H - tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Tiến Nghị - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Thế V, sinh năm 1995
Nơi cư trú: tổ dân phố M, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 98 ngày 30/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Thế V 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, V chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/02/2018. Bản án hình sự sơ thẩm số 04 ngày 22/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hưng Yên xử phạt Nguyễn Thế V 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, V chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/11/2021; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/6/2022 đến ngày 04/6/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình “có mặt”.
Những người làm chứng:
1. Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1981 (vắng mặt).
2. Anh Nguyễn Tuấn Ph, sinh năm 1996 (vắng mặt). Đều cư trú: tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 01/6/2022, Nguyễn Thế V ở tổ dân phố M, thị trấn H, huyện H đi bộ từ nhà đến khu vực ngã tư Bưu điện thị trấn H, huyện H gặp và mua của một người thanh niên, không biết tên tuổi địa chỉ 01 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1222 gam được bọc bằng giấy trắng có dòng kẻ với giá 200.000 đồng. V cầm ma túy trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về tìm chỗ sử dụng. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi V đi đến đoạn đường Quốc lộ 39A khu vực ngã tư Giếng Đầu thuộc tổ dân phố Đầu thị trấn H, huyện H, bị tổ công tác Công an thị trấn H, huyện H thấy có nghi vấn liên quan đến ma túy và yêu cầu V đứng lại kiểm tra. Nguyễn Thế V đã thả từ lòng bàn tay trái xuống dưới mặt đường cạnh chân V đang đứng gói giấy màu trắng có dòng kẻ. Tổ công tác yêu cầu V nhặt gói giấy màu trắng có dòng kẻ lên và mở kiểm tra bên trong thấy có chất bột màu trắng dạng cục, V khai đó là ma túy, loại Heroine, V vừa mua mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác niêm phong gói ma túy trên trước sự chứng kiến của những người làm chứng, sau đó đưa Nguyễn Thế V về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H làm việc. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thế V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Bản kết luận giám định số 198/KL-KTHS(MT) ngày 02/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,1222 gam (Không phẩy một nghìn hai trăm hai mươi hai gam).
Bản Cáo trạng số 78/CT- VKSHH ngày 12/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, bị cáo V thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản Cáo trạng.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 BLHS; xử phạt bị cáo V từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 01/6/2022.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 198/KL-KTHS (MT) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình. Bị cáo V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo V không tranh luận gì và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện H; Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục số 01 đến số 04); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (bút lục số 25); Bản kết luận giám định số 198/KL-KTHS(MT) ngày 02/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (bút lục số 33); biên bản ghi lời khai của người làm chứng: anh Hoàng Văn D và anh Nguyễn Tuấn Ph (bút lục từ số 74 đến số 81). Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 01/6/2022, tại đoạn đường Quốc lộ 39A khu vực ngã tư Giếng Đầu, thuộc tổ dân phố Đầu, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; Nguyễn Thế V đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1222 gam ma tuý, loại Heroine, mục đích để sử dụng, bị Công an thị trấn H, huyện H phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo có 02 tiền án vì vậy, hành vi phạm tội lần này của bị cáo V đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) ...
o) Tái phạm nguy hiểm.
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực điều khiển hành vi của mình, nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, làm suy kiệt kinh tế gia đình, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của rất nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự xã hội. Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán…trái phép chất ma túy, nhưng do mắc nghiện ma túy nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. V không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 BLHS, bị cáo có nhân thân xấu. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt, cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo nói riêng và có tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Bị cáo tàng trữ ma túy, mục đích là để sử dụng cho bản thân, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc mua ma túy bị cáo V khai: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 01/6/2022, V đi bộ từ nhà đến khu vực ngã tư Bưu điện thị trấn H, huyện H gặp và mua của một người thanh niên, không biết tên tuổi địa chỉ với giá 200.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho V nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng: 0,1005 gam (Không phẩy một nghìn không trăm linh lăm gam) ma tuý, loại Heroine còn lại sau giám định của bị cáo V trong phong bì niêm phong số 198/KL-KTHS (MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo V phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyªn bè: BÞ cáo Nguyễn Thế V ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
2. ¸p dông điểm o khoản 2 Điều 249; ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51; ĐiÒu 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự; xử ph¹t bị cáo V 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 01/6/2022.
3. VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu để tiêu huỷ 0,1005gam (Không phẩy một nghìn không trăm linh lăm gam) ma tuý, loại Heroine còn lại sau giám định của bị cáo V trong phong bì niêm phong số 198/KL-KTHS (MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình đang quản lý).
4. VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, bÞ c¸o V ph¶i nộp 200.000 đồng tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.
5. Về quyền kháng cáo: BÞ c¸o V cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n. * Nơi nhận:
| - VKSND tỉnh Thái Bình; - VKSND huyện H; - Chi cục THADS Hưng Hà; - Công an huyện H; - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Nhàn |