- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Danh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2022/HS-ST Ngày 15/11/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nhâm Đức Hùng
2. Bà Nguyễn Hải Anh
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Cẩm Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vƣơng- Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 61/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2022, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Danh T, sinh năm 1999 tại Kiên Giang; Nơi cư trú: ấp T, xã A, huyện T, tỉnh G; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 07/12; Quốc Tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Danh S, sinh năm 1962 và bà Thị Đ (đã chết); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2022, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Hữu P – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người làm chứng: Anh Danh N, sinh năm 1995 (Vắng mặt);
Trú tại: ấp T, xã A, huyện T, tỉnh G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Danh T (sinh ngày: 12/11/1999 nơi cư trú: ấp T, xã A, huyện T, tỉnh G) là đối tượng nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng nên vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 16 tháng 7 năm 2022, T đi đến khu vực cống ngầm số 2 thuộc ấp T, xã A, huyện T, tỉnh G để tìm mua ma túy. Tại đây, T gặp một người đàn ông tên S (Không xác định họ tên địa chỉ, S là bạn quen biết ngoài xã hội của T), S hỏi T có mua ma túy không thì T nói có. T hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá thì người này đồng ý bán và đưa cho T một bịch ma túy, T trả cho S 1.000.000 đồng.
Sau khi mua được ma túy, T mang ma túy về nhà của T tại ấp T, xã A, huyện T để cất giấu. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T lấy một ít ma túy ra sử dụng và cất giấu phần ma túy còn lại vào trong quần lót mà T đang mặc. Đến 22 giờ cùng ngày, Công an huyện Châu Thành phối hợp với Công an xã Bình An tiến hành kiểm tra bắt tang T đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ bên trong quần lót của T: 01 bịch nylon có rãnh gài, viền đỏ, kích thước 10,1 cm x 6,5 cm. bên trong gồm có:
+ 01 bịch nylon được hàn kín, hở một đầu, kích thước 2,5 cm x 04 cm, trên bịch nylon có ghi số 2, bên trong có chứa 04 bịch nylon chứa các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất nghi là chất ma túy;
+ 01 (một) bịch nylon được hàn kín, hở một đầu, kích thước 05 cm x 3,1 cm, trên bịch nylon có ghi số 3, bên trong có chứa 02 bịch nylon chứa các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất nghi là chất ma túy;
+ 01 (một) bịch nylon được hàn kín, kích thước 01 cm x 3,2 cm, bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất nghi là chất ma túy;
+ 01 (một) bịch nylon được hàn kín, kích thước 2,1 cm x 2,6 cm, bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất nghi là chất ma túy. Tất cả được niêm phong đúng quy định.
Sau khi bị bắt quả tang, T được đưa về Công an xã Bình An để lấy lời khai. Tại đây T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Kết luận giám định 631/KL-KTHS, ngày 11/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:
Các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất chứa trong 08 (tám) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu vật gửi giám định là 0,6649 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ (Bút lục: 19).
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Nhận thấy trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình
- Đồ vật, tài liệu thu giữ, tạm giữ gồm:
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ và nhập kho các vật chứng
+ Nhiều hạt tinh thể trong suốt, dạng rắn, không đồng nhất, sau khi tiến hành giám định khối lượng còn lại là 0,5878 gam được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ Niêm phong mẫu vật, vụ số 631/2022, ngày 13 tháng 7 năm 2022, người chứng kiến Lê Thanh Trường, giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có đóng dấu mộc đó niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang.
Hiện các vật chứng này đang được quản lý tại kho vật chứng của Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Tại bản cáo trạng số: 62/CT-VKS-CT ngày 21/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Danh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Danh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Danh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Tịch thu tiêu hủy nhiều hạt tinh thể trong suốt, dạng rắn, không đồng nhất, sau khi tiến hành giám định khối lượng còn lại là 0,5878 gam được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ Niêm phong mẫu vật, vụ số 631/2022, ngày 13 tháng 7 năm 2022, người chứng kiến Lê Thanh Trường, giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có đóng dấu mộc đó niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.
Tại phiên tòa, ông Trần Hữu P - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kiên Giang người bào chữa cho bị cáo Danh T vắng mặt nhưng theo nội dung bài phát biểu luật sư gửi Tòa án có ý kiến trình bày như sau: Về tội danh mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội nên Trợ giúp viên hoàn toàn thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát.
Tuy nhiên, cũng mong HĐXX xem xét: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân bị cáo tốt không có tiền án, tiền sự; Hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc hộ nghèo. Do đó, Luật sư trợ giúp pháp lý đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo xử mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ thể hiện tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến đối với phát biểu của luật sư bào chữa.
Bị cáo được nói lời nói sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu cũng như kết quả điều tra của Cơ quan điều tra và bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành. Từ đó, có đủ căn cứ để xác định: Danh T là đối tượng nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng T đã mua ma túy của một đối tượng tên S để mang về sử dụng. Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 06 tháng 7 năm 2022, Khi T đang ở nhà thuộc ấp T xã A, huyện T, tỉnh G thì bị Lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang T về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, loại methamphetamine, khối lượng 0,6649 gam.
Căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ... ; c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ... Như vậy, hành vi cất giấu 01 bịch nylon chứa ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,6649 gam để sử dụng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như đã viện dẫn nêu trên.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi phạm tội của mình, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn, là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm. Nhưng chỉ vì nghiện ma túy và để có ma túy sử dụng mà bị cáo đã cố ý tìm mua và tàng trữ 0,6649 gam loại Methamphetamine để sử dụng thì bị Công an phát hiện nên cáo phải chịu trách nhiệm với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo luôn thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân bị cáo tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo là dân tộc thiểu số nên việc am hiểu pháp luật có phần hạn chế nên cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình là phù hợp.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận.
Xét đề nghị của ông Trần Hữu P - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kiên Giang người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ chấp nhận nên HĐXX ghi nhận để xem xét
Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với nhiều hạt tinh thể trong suốt, dạng rắn, không đồng nhất, sau khi tiến hành giám định khối lượng còn lại là 0,5878 gam được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ Niêm phong mẫu vật, vụ số 631/2022, ngày 13 tháng 7 năm 2022, người chứng kiến Lê Thanh Trường, giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có đóng dấu mộc đó niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang. Vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên xử tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Danh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Danh T 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 07/7/2022.
2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xử tịch thu tiêu hủy nhiều hạt tinh thể trong suốt, dạng rắn, không đồng nhất, sau khi tiến hành giám định khối lượng còn lại là 0,5878 gam được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ Niêm phong mẫu vật, vụ số 631/2022, ngày 13 tháng 7 năm 2022, người chứng kiến Lê Thanh Trường, giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có đóng dấu mộc đó niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang.
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 42/QĐ-VKSCT ngày 21/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án
Buộc bị cáo Danh T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Châu Thành; - Công An huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Bị cáo; - Lưu HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Phong |