- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn Ng. về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? sự năm 2015; điểm f khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG ____________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2022/HS-PT Ngày : 05-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng
Các Thẩm phán: Ông Phạm Tấn Tài
Ông Thái Văn Chấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Bảo Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà
Phạm Huỳnh Ng. Thi - Kiểm sát viên
Trong ngày 05 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 233/2022/HSPT ngày 21 tháng
11 năm 2022 đối với bị cáo Huỳnh Văn Ng. do có kháng cáo của bị cáo Ng. đối với
Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Tòa án
nhân dân huyện T.:
Bị cáo có kháng cáo:
Huỳnh Văn Ng., sinh năm 1989 tại huyện T., tỉnh An Giang. Nơi đăng ký hộ
khẩu thường trú: Ấp L., xã Gi., huyện T., tỉnh An Giang; Nơi ở hiện nay: Ấp Th. xã
Q., huyện T., tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn):
Không biết chữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật
giáo; con ông Huỳnh Văn K. và bà Nguyễn Thị Đ. (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con.
Nhân thân: Ngày 04/02/2016 bị Tòa án nhân dân huyện T. xử phạt 01 năm tù
về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 11/11/2016.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2022, đến ngày 07/10/2022 bị cáo chết.
(Trong vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Viện kiểm
sát không kháng nghị)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 25/10/2021, lực lượng công an thị trấn B. thực hiện tuần tra tại khu vực khóm N., thị trấn B., huyện T., nhìn thấy Huỳnh Văn Ng. điều khiển xe mô tô biển số 67K3-3339 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng phương tiện kiểm tra. Ng. bỏ chạy vào đường hẻm chợ N., khi lực lượng công an truy đuổi bắt giữ được Ng. thì phát hiện tại vị trí hàng rào chùa Bát Cung (vị trí Ng. té ngã) có 01 gói thuốc Hero bên trong có 02 bọc nilon màu trắng trong suốt, chứa các hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) nên đưa về trụ sở làm việc. Qua làm việc, Ng. khai nhận 02 bọc nilon màu trắng bị thu giữ là ma túy, Ng. mua của đối tượng tên S. ngụ xã A., huyện T>B. đem về sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện và bắt giữ.
Theo kết luận giám định số 298/KLGT-PC09 ngày 12/11/2021 của Phòng kỹ
thuật hình sự công an tỉnh An Giang kết luận: Một phong bì màu trắng được niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Công an thị trấn B., huyện T., tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Thái Công Th., Nguyễn Xuân H., Huỳnh Ngọc S. và dấu vân tay màu đỏ ghi tên Huỳnh Văn Ng.. Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,3788 gam.
Cáo trạng số 22/CT-VKSAP ngày 29 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện T. truy tố bị cáo Huỳnh Văn Ng. về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2022 của
Tòa án nhân dân huyện T. đã căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Ng. 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 07/3/2022.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng
cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/9/2022 bị cáo Huỳnh Văn Ng. làm đơn kháng
cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 07 tháng 10 năm 2022 bị cáo Huỳnh Văn Ng. chết (theo Thông báo số
77/TB-NTG ngày 07 tháng 10 năm 2022 của Nhà tạm giữ Công an huyện T.).
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm về
vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo có nội dung, yêu cầu rõ ràng, gửi
trong hạn luật định nên đủ cơ sở xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Do bị cáo đã chết nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn
cứ khoản 7 Điều 157, khoản 2 Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự, hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Huỳnh Văn Ng. kháng cáo trong hạn luật định
nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xét xử phúc thẩm.
Về nội dung:
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo Huỳnh Văn Ng. tại phiên tòa sơ thẩm hoàn
toàn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm
chứng trong giai đoạn điều tra đồng thời cũng phù hợp với Kết luận giám định số
298/KLGT-PC09 ngày 12/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh An
Giang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác
định: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 25/10/2021, bị cáo Huỳnh Văn Ng. đã có hành vi
cất giấu 0,3788 gam loại Methamphetamine ma túy trong túi quần. Do đó, cấp sơ
thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Văn Ng. về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm
c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và
đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo:
Bị cáo Huỳnh Văn Ng. không kháng cáo kêu oan, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt.
Ngày 07 tháng 10 năm 2022 bị cáo Huỳnh Văn Ng. chết (theo Thông báo số
77/TB-NTG ngày 07/10/2022 của Nhà tạm giữ Công an huyện T.).
Xét thấy, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, căn cứ khoản
7 Điều 157, khoản 2 Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử phúc thẩm
quyết định hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2022
của Tòa án nhân dân huyện T. và đình chỉ vụ án. Việc hủy bản án sơ thẩm không có
lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.
Về xử lý vật chứng:
- Tuyên bố tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong
(vụ số 298/KLGT-PC09 ngày 12-11-2021) có đóng dấu trong màu đỏ của cơ quan
cảnh sát điều tra Công an huyện T., tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn
Đăng Kh., Đặng Thái Q.. Bên trong có mẫu M1 còn lại sau khi đã giám định, khối
lượng 0.1862 gam (không phẩy một tám sáu hai gam); mẫu M2 còn lại sau khi giám
định, khối lượng 0.0921 gam (không phẩy không chín hai một gam) và 01 (một) gói
thuốc lá hiệu HERO (bên trong rỗng).
- Tuyên bố tịch thu phát mãi sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại
bàn phím, hiệu Mobell màu đen có gắn thẻ sim 0342447282 (đã qua sử dụng).
- Trả lại cho bị cáo Huỳnh Văn Ng. 01 xe mô tô biển số 67K3-3339, loại xe
ATTILA màu trắng, số máy HN767104, số khung 767104 và 01 (một) giấy chứng
nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 0101917 tên Hồ Ngọc B.. Do bị cáo Ng. đã chết
nên người thừa kế của bị cáo sẽ được nhận xe này.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm nên căn cứ điểm f
khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 7 Điều 157, khoản 2 Điều 359, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2015; điểm f khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2022 của
Tòa án nhân dân huyện T., tỉnh An Giang và đình chỉ vụ án.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (vụ số
298/KLGT-PC09 ngày 12-11-2021) có đóng dấu trong màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T., tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Kh., Đặng Thái Q..
- Tịch thu phát mãi sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại bàn
phím, hiệu Mobell màu đen có gắn thẻ sim 0342447282 (đã qua sử dụng).
- Trả lại cho người thừa kế của bị cáo Huỳnh Văn Ng. 01 (một) xe mô tô biển
số 67K3-3339, loại xe ATTILA màu trắng, số máy HN767104, số khung 767104 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 0101917 tên Hồ Ngọc B.
(Các vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. quản lý theo
Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/9/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T. và Chi cục thi hành án dân sự huyện T.).
Bị cáo Huỳnh Văn Ng. không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân cấp cao; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang; - Tòa án nhân dân huyện T.; - Viện kiểm sát nhân dân huyện T.; - Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện T.; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.; - Sở Tư pháp tỉnh; - Trại tạm giam – Công an tỉnh; - Phòng lưu trữ hồ sơ - Công an tỉnh; - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án; - Văn phòng; - Bị cáo; - Lưu Tòa Hình sự; hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hồng |