- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh Bùi Quang H và Hà Thị H"
- Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Quang H.
- Căn cứ chính? Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _______________ Bản án số: 79/2022/HNGĐ-ST Ngày: 24/5/2022 “V/v Xác định cha cho con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Sĩ Quang; bà Phạm Thị Nguyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 184/2021/TLST-HNGĐ ngày 22/7/2021, về việc “Xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2022, giữa:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quang H, sinh năm 1979.
2. Bị đơn: Chị Hà Thị H, sinh năm 1978.
Đều ở địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương.
Anh Hưng, chị Huệ vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Kim Yeong M, sinh ngày 19/8/1974. Quốc tịch: Hàn Quốc. Địa chỉ: Số 877-1, xã S, thành phố M, tỉnh Gyeong Sang, Hàn Quốc. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các bản khai - Nguyên đơn anh Nguyễn Quang H trình bày: Anh và chị Hà Thị H quen biết nhau trong thời gian anh, chị đang lao động tại Hàn Quốc. Đến cuối năm 2013 và năm 2014 anh chị về Việt Nam sinh sống cùng nhau và sinh được hai con chung là Nguyễn Anh Th, sinh ngày 12/9/2015 và Nguyễn Minh A, sinh ngày 10/10/2018. Tuy nhiên, anh chị không thực hiện được việc khai sinh cho các con theo quy định của pháp luật vì trước khi kết hôn với anh, chị H đã đăng ký kết hôn với anh Kim Yeong M vào năm 2009. Đến ngày 29/11/2019, Tòa án nhân dân tỉnh hải Dương mới giải quyết cho chị Huệ và anh Kim Yeong M được ly hôn. Đến ngày 14/10/2020 anh và chị Huệ đã thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương. Ngày 19/5/2021 anh và cháu Nguyễn Anh Th, cháu Nguyễn Minh A đã thực hiện giám định ADN. Tại Kết luận giám định ADN số KL180545-2 và số KL180545-1 ngày 19/5/2021 của Viện công nghệ sinh học phòng TNTĐ Công nghệ gen kết luận: anh Nguyễn Quang H và cháu Nguyễn Anh Th có quan hệ huyết thống cha - con với xác suất 99.99999981255709% và cháu Nguyễn Minh A có quan hệ huyết thống cha - con với xác suất 99.99999983561278%. Do vậy, đề nghị xác định anh Nguyễn Quang H là cha của cháu Nguyễn Anh Th và cháu Nguyễn Minh A để anh làm thủ tục khai sinh cho các cháu.
Tại các biên bản lấy lời khai - bị đơn chị Hà Thị H trình bày: Về điều kiện kết hôn giữa chị và anh H như anh Hưng trình bày là đúng. Trước khi kết hôn với anh Hưng, chị đã có quan hệ hôn nhân với anh Kim Yeong M. Quá trình chung sống vợ chồng không hợp nên chị có đơn ly hôn anh Kim Yeong M và đã được Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết cho ly hôn theo Bản án số 163/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019. Giữa chị và anh H có hai con chung là Nguyễn Anh Th, sinh ngày 12/9/2015 và Nguyễn Minh A, sinh ngày 10/10/2018, nhưng thời điểm này chị chưa được giải quyết ly hôn nên chưa đăng ký khai sinh cho các con theo đúng quy định của pháp luật. Do vậy, chị nhất trí đề nghị Tòa án xác định anh Nguyễn Quang H là cha của cháu Nguyễn Anh Th và cháu Nguyễn Minh A
Tại phiên tòa, anh Nguyễn Quang H và chị Hà Thị H vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh Kim Yeong M là người có quốc tịch Hàn Quốc. TAND tỉnh Hải Dương đã ủy thác tư pháp, tống đạt văn bản tố tụng, thông báo trên cổng thông tin điện tử của TAND tỉnh Hải Dương và cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc, tuy nhiên anh Kim Yeong Man vẫn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, anh Kim Yeong M vắng mặt. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 91, Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 BLTTDS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Quang H, xác định cháu Nguyễn Anh Th, sinh ngày 12/9/2015 và Nguyễn Minh A, sinh ngày 10/10/2018 là con đẻ của anh Nguyễn Quang H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Quang H cung cấp địa chỉ của anh Kim Yeong M tại số 877-1, xã S, thành phố M, tỉnh Gyeong Sang, Hàn Quốc, ngoài địa chỉ trên anh H không cung cấp được địa chỉ nào khác. Tòa án đã gửi hồ sơ ủy thác tư pháp tới Bộ Tư pháp để thực hiện ủy thác theo quy định của pháp luật. Tòa án đã nhận được công văn số 2516/CH-BTP ngày 10 tháng 12 năm 2021 của Bộ Tư pháp, thể hiện Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã gửi văn bản ủy thác tới Cục Quản lý Tòa án quốc gia, Đại Hàn Dân Quốc để tống đạt giấy tờ đối với đương sự Kim Yeong M. Ngày 01/4/2022, Bộ Tư pháp có công văn số 738/BTP-PLQT thể hiện Bộ Tư pháp đã nhận được văn bản số 2022-D-55 ngày 12/01/2022 của Cục Quản lý Tòa án quốc gia, Đại Hàn Dân Quốc thông báo trả lại hồ sơ ủy thác tư pháp đối với đương sự Kim Yeong M do địa chỉ không chính xác. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã tiến hành thông báo các văn bản của Tòa án trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương và cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc. Tuy nhiên hết thời hạn 1 tháng anh Kim Yeong M vẫn không có văn bản trình bày ý kiến. Trong quá trình giải quyết vụ án anh H và chị H có đơn xin được xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm c khoản 6 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về nội dung: Ngày 14/10/2020, anh Nguyễn Quang H và chị Hà Thị H chị tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương. Trước khi kết hôn anh Nguyễn Quang H và chị Hà Thị H có hai con chung là Nguyễn Anh Thơ, sinh ngày 12/9/2015 và Nguyễn Minh A, sinh ngày 10/10/2018. Tuy nhiên thời điểm chị H sinh con Nguyễn Anh Th và Nguyễn Minh A thì chị đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp với anh Kim Yeong Man. Ngày 29/11/2019, chị Huệ và anh Kim Yeong M được Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết cho ly hôn theo Bản án số 163/2019/HNGĐ-ST và đã có hiệu lực pháp luật. Tại Kết quả xét nghiệm ADN số KL180545-2 ngày 19/5/2021 của Viện công nghệ sinh học phòng TNTĐ Công nghệ gen kết luận: anh Nguyễn Quang Hưng và cháu Nguyễn Anh Th có quan hệ huyết thống cha - con với xác suất 99.99999981255709% và kết quả xét nghiệm ADN số KL180545-1 ngày 19/5/2021 của Viện công nghệ sinh học phòng TNTĐ Công nghệ gen kết luận: anh Nguyễn Quang H và cháu Nguyễn Minh A có quan hệ huyết thống cha - con với xác suất 99.99999983561278%. Do vậy, HĐXX có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xác định anh Nguyễn Quang H là cha đẻ của cháu Nguyễn Anh Th và cháu Nguyễn Minh A là phù hợp với quy định tại Điều 88; Điều 91, 102 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về án phí: Anh Nguyễn Quang H được miễn án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh H phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp theo quy định tại khoản 3 Điều 153 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 88; Điều 91, 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 3 Điều 153 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Quang H.
1. Xác định anh Nguyễn Quang H là cha đẻ của Nguyễn Anh Th, sinh ngày 12/9/2015 và Nguyễn Minh A, sinh ngày 10/10/2018.
2. Về án phí: Anh Nguyễn Quang H được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình.
Hoàn trả anh Nguyễn Quang H số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số AA/2018/0007334 ngày 22 tháng 7 năm 2021 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
3. Về lệ phí ủy thác tư pháp: Anh Nguyễn Quang H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) lệ phí ủy thác tư pháp, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2020/0004591 ngày 10/11/2021 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
4. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Quang H và chị Hà Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Anh Kim Yeong M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Các đương sự; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; -Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc (để niêm yết). - UBND xã C, huyện C (để ghi sổ hộ tịch). - Lưu hồ sơ, Lưu VP, Lưu Tòa. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Minh Tân |