vanban.org

Bản án 79/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hậu Giang Tuyên án 20/12/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 122 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn L và anh Nguyễn D. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Nguyễn L và Bị đơn Nguyễn D"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 122 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2022/HNGĐ-ST.
Ngày: 20 - 12 - 2022.
V/v “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Đình Nghệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đặng Hồng Luyến.

2. Bà Lê Thị Tuyết Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2022, về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2022/QĐXX-ST ngày 05 tháng 12 năm 2022, giữa đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn L, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Đài Loan (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn D, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Khu vực A, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn L trình bày: Chị và anh Nguyễn D tự nguyện kết hôn vào ngày 17 tháng 3 năm 2020 tại Ủy ban nhân dân thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Sau khi kết hôn, chị trở về Đài Loan sinh sống và làm thủ tục bảo lãnh anh Nguyễn D sang Đài Loan nhưng do tình hình dịch bệnh nên chị không thể về Việt Nam được. Do chị và anh Nguyễn D mỗi người sinh sống hai nơi khác nhau, chỉ liên lạc qua điện thoại và sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng ý kiến, tính tình không phù hợp, hôn nhân không hạnh phúc. Nay chị Nguyễn L yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn D.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn L khai không có.

Bị đơn anh Nguyễn D trình bày: Anh thống nhất với phần trình bày của chị Nguyễn L về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Anh đồng ý ly hôn với chị Nguyễn L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu, trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự đã chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự; và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn L, công nhận sự thuận tình ly hôn của đương sự. Về con chung, tài sản chung và nợ chung đương sự khai không có nên đề nghị không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị Nguyễn L là người quốc tịch Đài Loan có đơn khởi kiện xin ly hôn với bị đơn anh Nguyễn D tại địa chỉ Khu vực A, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn L và anh Nguyễn D có văn bản yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn L và anh Nguyễn D tự nguyện kết hôn vào ngày 17 tháng 3 năm 2020 tại Ủy ban nhân dân thị xã L, tỉnh Hậu Giang nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn L và anh Nguyễn D đều thừa nhận hôn nhân không hạnh phúc và đã đồng ý thuận tình ly hôn. Xét thấy, sự thuận tình ly hôn của các đương sự là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử công nhận.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn L và anh Nguyễn D đều khai không có.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 470, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 122 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn L và anh Nguyễn D.

2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Chị Nguyễn L phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0000075 ngày 12 tháng 4 năm 2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị Nguyễn L được nhận lại 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang.

Anh Nguyễn D phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

3. Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 01 tháng và bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ