- Tranh chấp gì? án hình sự — "Y H Muah - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (điều 232 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng tiền án phí.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 232 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2021/HSPT Ngày 09-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phi Kbuôr
Các Thẩm phán: Ông Trần Duy Tuấn, ông Doãn Đình Quyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Huy - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 09/3/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2021, đối với bị cáo Y H Muah, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2020/HSST, ngày 03/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Y H Muah, sinh năm 1998 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Buôn E, xã K, huyện B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Ê Đê; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông N Phút Lào và bà H N1 Muah; có vợ là H J Rya và 1 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Tại Bản án số 39/2015/HSST ngày 24/9/2015, Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn xét xử bị cáo về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 1999 với mức hình phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm và đã được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại – có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Y H Muah: Ông Phạm Công M – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp Pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
Ngoài ra trong vụ án còn có 03 bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 10/5/2020, Y H Muah đi vào khu vực rừng thuộc Vườn quốc gia Y thuộc xã K, huyện B, tỉnh Đắk Lắk để tìm hoa phong lan thì phát hiện 01 cây gỗ Lim xẹt đổ nằm nghiêng bên bờ suối, thân cây dài khoảng 8m, đường kính mặt gốc khoảng 80cm. Thấy vậy, Y H đã nảy sinh ý định khai thác lấy thân gỗ trên về bán kiếm tiền tiêu xài. Ngày 11/5/2020 Y H Muah chuẩn bị 01 cưa tay, 01 xe đạp độ chế và thuê 03 đối tượng gồm Y’D Hmǒk trú tại buôn T, xã E, huyện B; Y K Muah trú tại buôn L, xã K, huyện B và Y Y Hra trú tại buôn Đ, xã K, huyện B với giá tiền công mỗi người 500.000đồng/ngày để vào Vườn quốc gia Yok Don thuộc xã K, huyện B, tỉnh Đắk Lắk cắt cây gỗ ra từng lóng và vận chuyển ra khỏi rừng. Tại đây, Y H cùng các đối tượng đã thay nhau dùng cưa tay cắt thân cây gỗ thành 03 lóng, thấy lóng gỗ to, nặng, 04 người không thể vận chuyển về được nên sáng ngày 12/5/2020, Y H Muah đã nhờ Y’D Hmǒk gọi thuê thêm người, Y’D Hmǒk đã gọi thuê được 02 đối tượng là Y L Niê K Dăm trú tại buôn P, xã E, huyện B và Y T Hmǒk trú tại buôn T, xã E, huyện B c ng thuê với mức giá 500.000đồng/ngày/người. Sau khi tập trung đủ 06 người gồm: Y H Muah, Y K Muah, Y’D Hmǒk, Y Y Hra, Y L Niê K Dăm, và Y T Hmǒk, dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của Y H, 06 đối tượng cùng nhau khiêng 01 lóng gỗ sát phần gốc lên xe đạp và đẩy ra hướng Tỉnh lộ 1 để đưa lóng gỗ về, tuy nhiên khi đẩy gỗ đến cách đường Tỉnh lộ 1 khoảng 50m thì không thể đẩy được do gỗ nặng nên cả nhóm bỏ lóng gỗ xuống và đi về lán trại nghỉ ngơi; tại đây, Y H tiếp tục nhờ Y’D Hmǒk gọi thuê thêm người, Y’D Hmǒk gọi thêm được 02 đối tượng nữa là Y D1 Byă và Y H1 Hra cùng trú tại buôn T, xã E, huyện B. Đến chiều ngày 12/5/2020, 08 đối tượng gồm Y H Muah, Y K Muah, Y’D Hmǒk, Y Y Hra, Y L Niê KDăm, Y T Hmǒk, Y D1 Byă và Y H1 Hra tập trung đủ, Y H phân công Y K Muah, Y’D Hmǒk, Y L Niê K Dăm, Y T Hmǒk thay nhau cắt phân đôi lóng gỗ sát phần ngọn để dễ vận chuyển, Y D1 Byă và Y H1 Hra cảnh giới, Y H Muah, Y Y Hra đi mua thức ăn, sau đó 08 đối tượng tập trung khiêng 01 lóng gỗ sát phần ngọn vừa cắt xong lên xe đạp rồi đẩy gỗ đi, khi đẩy gỗ đến khu vực rừng thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ B thì xe đạp bị hỏng nên cả nhóm bỏ gỗ xuống, quay lại lán trại sửa xe đạp và nghỉ ngơi. Đến sáng ngày 13/5/2020, 08 đối tượng quay lại vị trí lóng gỗ trên để tiếp tục đẩy lóng gỗ thì bị lực lượng Kiểm lâm phát hiện nên cả nhóm bỏ trốn.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 14/5/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B xác định: Hiện trường nơi xảy ra vụ án khai thác trái phép thuộc lô 7, khoảnh 11, tiểu khu 437 Vườn Quốc gia Y, thuộc địa giới hành chính xã K, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Cây gỗ bị khai thác có điểm tọa độ VN 2000 là 425926 - 1435302, thuộc Lô 7, khoảnh 11, tiểu khu 437 Vườn Quốc gia Y.
Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ các vật chứng sau: 01 xe đạp thồ, 01 cưa tay của bị cáo Y H Muah sử dụng vào việc phạm tội và 6,637m3 gỗ Lim xẹt.
Tại Kết luận giám định theo Quyết định trưng cầu giám định số 04/QĐ-TCGĐ-KL ngày 13/5/2020 của Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Don kết luận: Tổng khối lượng gỗ của 01 cây gỗ bị khai thác trái phép nói trên là 6,637m3 gỗ; chủng loại gỗ Lim xẹt, thuộc nhóm V, tên khoa học là Peltophorum pterocarpum; đối tượng rừng bị xâm hại là rừng tự nhiên, vị trí khai thác cây gỗ được quy hoạch là rừng đặc dụng.
Tại kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS, ngày 17/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện B kết luận 6,637m3 gỗ Lim xẹt có giá trị thành tiền là 35.993.000 đồng (Ba mươi lăm triệu chín trăm chín mươi ba ngàn đồng).
Đối với các đối tượng Y L Niê K Dăm, Y T Hmǒk, Y D1 Byă và Y H1 Hra được thuê vận chuyển 2 lóng gỗ có khối lượng 1,372m3 là chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2020/HSST ngày 03/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Y H Muah phạm tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
- Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Y H Muah 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo Y D Hmok, Y K Muah, Y Y Hra, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 07/12/2020, bị cáo Y H Muah kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Y H Muah và xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và mức hình phạt 01 năm tù là thỏa đáng nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Y H Muah c ng như các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo Y H Muah trình bày quan điểm bào chữa: Bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, mức hình phạt 01 năm tù đối với bị cáo là nghiêm khắc, vì cây gỗ do bị cáo khai thác đã bị đổ nằm nghiêng bên bờ suối nên mức độ ảnh hưởng đến môi trường không đáng kể, gây thiệt hại không lớn. Mặt khác, bị cáo là người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh khó khăn nên nhận thức về pháp luật hạn chế, khai báo thành khẩn. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được tự cải tạo ngoài xã hội.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.
Qua phần tranh luận, Kiểm sát viên và người bào chữa cho bị cáo tranh luận, đối đáp với nhau và giữ nguyên quan điểm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Y H Muah khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung của Bản án sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định: Từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 5 năm 2020, bị cáo Y H Muah là người chủ mưu, khởi xướng đã thuê các bị cáo Y’ D Hmǒk, Y K Muah, Y Y Hra và một số đối tượng khác vào Tiểu khu 437 rừng đặc dụng là rừng tự nhiên của Vườn Quốc gia Y thuộc xã, huyện B, tỉnh Đắk Lắk khai thác trái phép 6,637m3 gỗ Lim xẹt (gỗ quy tròn), với giá trị thiệt hại được xác định là 35.993.000 đồng. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét mức hình phạt 01 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là thỏa đáng. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, mục đích phạm tội của bị cáo nhằm có tiền để trang trải cho cuộc sống hàng ngày; sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhằm thế hiện tính khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sớm được hòa nhập với cộng đồng.
Về kháng cáo của bị cáo xin được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là không có cơ sở nên không chấp nhận.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Y H Muah không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng tiền án phí.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Y H Muah – Sửa Bản án hình sự sơ thẩm 41/2020/HS-ST ngày 03/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk.
[2] Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Y H Muah 09 (chín) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.
[3] Về án phí: Bị cáo Y H Muah không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; - Văn phòng CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp; - TAND huyện Buôn Đôn; - VKSND huyện Buôn Đôn; - Công an huyện Buôn Đôn; - Chi cục THADS huyện B; - THA Hình sự Công an huyện B; - Đương sự; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Y Phi Kbuôr |