- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mông Phương N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mông Phương N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2021/HS-ST Ngày 24-8-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Xuân;
Ông Hoàng Văn Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 74/2021/TLST-HS ngày 03/8/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2021/QĐXXST-HS ngày 11/8/2021 đối với bị cáo:
Mông Phương N, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 29 tháng 01 năm 19xx tại huyện H, tỉnh Cao Bằng;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm K, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lăng Văn C (tên gọi khác: C) và bà Mông Thị L; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng từ ngày 26/4/2021 đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Lăng Văn C (tên gọi khác: C), sinh năm 1976. Nơi cư trú: Xóm K, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 30 ngày 26/4/2021, Tổ công tác Đồn Biên phòng Đàm Thủy phối hợp với Phòng phòng chống ma túy và tội phạm Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng làm nhiệm vụ tại khu vực xóm H, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng phát hiện Mông Phương N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần N đang mặc 02 gói nilon màu đen, bên trong chứa chất bột màu trắng (N khai là ma túy, loại Heroine); 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 11K1-112.14. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng cùng các tài sản liên quan để phục vụ công tác điều tra.
Ngày 27/4/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiến hành cân số chất bột màu trắng có khối lượng 0,77g và trích lấy mẫu vật gửi trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số 147/GĐMT ngày 07/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại Heroine.
Quá trình điều tra chứng minh được: Mông Phương N sử dụng ma túy từ năm 2020. Loại ma túy sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng là hít. Sáng ngày 26/4/2021, N điều khiển xe mô tô từ nhà đến miếu thuộc xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng mua với một người đàn ông không quen biết với giá 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) được 02 gói ma túy. Sau đó N điều khiển xe mô tô đến xóm H, xã Đ chơi. Đến nơi, N dừng xe và đi bộ ở ngoài đường thì bị lực lượng Biên phòng phát hiện bắt quả tang. Mục đích N mua ma túy để sử dụng cho bản thân, không có mục đích nào khác.
Đối với số tài sản tạm giữ của N xác định được: Xe mô tô biển kiểm soát 11K1-112.14 là của ông Lăng Văn C (C), khi Mông Phương N sử dụng xe mô tô thực hiện hành vi phạm tội ông C không biết. Ngày 20/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho ông C. Số tiền 400.000 đồng do N làm thuê có được. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi là của bị cáo dùng để liên lạc hằng ngày, không liên quan đến tội phạm.
Tại bản Cáo trạng số: 77/CT-VKSTK ngày 03/8/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đã truy tố Mông Phương N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai: Bản thân sử dụng ma túy từ năm 2020, loại ma túy thường dùng là Heroine, hình thức sử dụng là hít. Để có ma túy sử dụng, N thường xuyên đến mua ở xóm L, xã Đ với một người không biết tên và địa chỉ. Sáng ngày 26/4/2021, N tiếp tục đến mua ma túy với một người không quen biết với giá 600.000đ được 02 gói. Sau đó điều khiển xe mô tô đến xóm H, xã Đ chơi thì bị lực lượng chức năng bắt giữ người cùng tang vật là 0,77g ma túy, loại Heroine. Mục đích N mua ma túy để bản thân sử dụng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông C (C) khai: Ông là bố của bị cáo N, ngày 26/4/2021 N có dùng xe máy của gia đình đi mua ma túy trong lúc ông không ở nhà. Hiện nay chiếc xe trên Công an huyện đã trả lại cho ông và không yêu cầu gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mông Phương N từ 18 đến 24 tháng tù. Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số heroine thu giữ; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động và số tiền 400.000đ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên và không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trùng Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra về thời gian, địa điểm, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có cơ sở để kết luận: Do có sử dụng ma túy nên buổi sáng ngày 26/4/2021, Mông Phương N đi xe máy từ nhà đến xóm L, xã Đ mua ma túy với một người đàn ông không biết tên và địa chỉ với giá 600.000đ được 02 gói nhỏ. Sau đó điều khiển xe mô tô đến xóm H, xã Đ chơi thì bị lực lượng chức năng bắt giữ người cùng tang vật là 0,77g ma túy, loại Heroine. Mục đích N mua ma túy để bản thân sử dụng.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo ý thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là phạm pháp nhưng vẫn cố ý thực hiện, đồng thời khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Khi bị bắt, bị cáo đang tàng trữ trái phép 0,77 gam ma túy, loại Heroine, là tình tiết định khung được quy định tại các điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đã truy tố và đề nghị mức án đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo sử dụng ma túy là chất bị Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ dưới mọi hình thức nên là người có nhân thân xấu. Xét tình chất, mức độ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thấy rằng, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhât định để răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và để phòng ngừa chung.
. Đối với người đàn ông bán ma túy cho N, do không xác định được họ tên và địa chỉ nên Công an huyện không có căn cứ xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Số Heroine thu giữ là mặt hàng Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành dưới mọi hình thức nên cần tịch thu tiêu hủy; số heroine gửi giám định do không hoàn lại nên Hội đồng xét xử không xem xét việc xử lý; Số tiền 400.000đ và 01 điện thoại đã qua sử dụng không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
. Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mông Phương N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt Mông Phương N 24 (hai tư) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 26/4/2021.
3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi “Vật chứng vụ Mông Phương N bị bắt ngày 26/4/2021”;
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi và số tiền 400.000đ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh, theo biên bản ngày 06/8/2021.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Mông Phương N phải chịu 200.000đ, tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
5. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Hoàng Văn Tâm – Hoàng Văn Xuân | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Văn Tùng |