- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2021/HS-ST Ngày 08 - 9 - 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Liên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Dân
Ông Đinh Thế Cần
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Vũ Công Huân - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2021, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Vũ Văn H, sinh ngày 07/9/1989 tại thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Tổ 3, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Xuân N, sinh năm 1965 và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định số 05/QĐ-TA ngày 22/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 29/01/2021; nhân thân: Bản án số 11/2015/HSST ngày 03/02/2015 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 24/01/2017. Quyết định số 17/QĐ-UBND ngày 10/10/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình áp dụng biện pháp giáo dục tại xã (thị trấn), thời hạn 03 tháng, ngày 18/12/2017 chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, chuyển lập hồ sơ đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị tạm giữ từ ngày 25/5/2021 đến ngày 28/5/2021 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (có mặt).
Người chứng kiến: - Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1973; nơi cư trú : Thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắ ng mặt).
- Ông Phạm Văn T, sinh năm 1972; nơi cư trú : Thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắ ng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 10 giờ 15 phút ngày 25/5/2021, tại đường thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện Quỳnh Phụ và Công an xã A phát hiện Vũ Văn H đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên yêu cầu về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã A, huyện Q làm việc. Tại đây, tổ công tác kiểm tra, phát hiện tại túi quần trước bên trái H mặc 01 gói nghi ma túy có đặc điểm ngoài là lớp nilon trong suốt, tiếp đến là giấy trắng có dòng kẻ, trong chứa chất bột màu trắng dạng cục; H khai là ma túy vừ a mua giá 100.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong gói vật chứng.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo không phát hiện, thu giữ gi.
̀
Bản kết luận giám định số 182/KLGĐMT-PC09 ngày 26/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,2539 gam (Không phẩy hai nghìn năm trăm ba mươi chín gam).
Heroine STT: 9, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 và Nghị định 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 của Chính Phủ”.
Tại phiên tòa bị cáo khai: Do nghiện ma tuý nên sáng ngày 25/5/2021, bị cáo đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đến thôn V, xã A, huyện Q tìm mua ma tuý sử dụng. Tới ngã tư thôn V, xã A, bị cáo xuống xe đi bộ vào một ngõ nhỏ gặp và hỏi mua của một người đàn ông khoảng 35 tuổi, không biết tên, địa chỉ 01 gói ma túy với số tiền 100.000 đồng. Bị cáo giấu gói ma túy trong túi quần trước bên trái rồi đi bộ vào thôn V, xã A tìm chỗ vắng sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Bản cáo trạng số 83/CT-VKSQP ngày 20/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình truy tố Vũ Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Vũ Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/5/2021; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luâ ̣n gi.
̀
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo đã đủ tuổi và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiê ̣n là phạm tội vớ i lỗi cố ý trực tiếp . Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như nô ̣i dung cáo tra ̣ng đa nêu và phù hợp̃ với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lờ i khai của ngườ i chứ ng kiến có trong hồ sơ vu ̣ án. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu , chứ ng cứ sau: Biên bản bắt ngườ i pha ̣m tô ̣i quả tang; biên bản quản lý, niêm phong đồ vật bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ lập; biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ vớ i Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình cùng ngày 25/5/2021; Kết luận giám định số 182/KLGĐMT-PC09 ngày 26/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 15 phút ngày 25/5/2021, tại đường thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Vũ Văn H có hành vi cất giấu trái phép trong túi quần trước bên trái 01 gói ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,2539 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
…
Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ truy tố và kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội , xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến a n ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Mặc dù đô ̣ng cơ pha ̣m tô ̣i xuất phát tự viê ̣c nghiê ̣n chất ma túy , mục đích để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, nhưng tệ nạn ma túy là mối quan tâm nhức nhối của toàn xã hội, ma túy gây tác hại lớn tới con người và là một trong những nguyên nhân hàng đầu kìm hãm sự phát triển kinh tế, văn hóa, gây ra nhiều tệ nạn khác kéo theo. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức coi thườ ng pháp luâ ̣, tội phạm bị cáo thực hiện thuô ̣t
c loa ̣i tội nghiêm trọng, vì vậy bị cáo phải chịumứ c hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; và được hưở ng tinh tiết giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m hinh sự “
Ngườ i phạm tội thà nh khẩn
̀
̀
khai bá o ” quy đi ̣nh tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là đối tượng nghiê ̣n ma túy, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, trong thờ i gian chấp hành quyết định vẫn sử du ̣ng ma túy nên bi ̣ áp du ̣ng biê ̣n pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiê ̣n bắt buô ̣c , mớ i chấp hành xong tháng 01/2021 nhưng vẫn không từ bỏ được ma túy dẫn đến pha ̣m tô ̣i; ngoài ra, năm 2015 bị cáo đã bị kết án cùng về tô ̣i tàng trữ trái phép chất ma túy vớ i mứ c án 36 tháng tù. Đây là những tinh tiết cần xem xét khi lượng hinh đối vớ i bi ̣ cáo.
̀
̀
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết tăng nă ̣ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đa phân tĩ
ch trên
́ thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn , cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mô ̣t thờ i gian nhất đi ̣nh , như mứ c án đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm s át đề nghị để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, như vậy bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định , vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Do không có căn cứ xác định người đã bán ma túy cho bị cáo, do đó cơ quan Điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy, kết quả giám định kết luận là ma túy loại heroine và hoàn trả mẫu vật sau giám định. Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, do đó cần tịch thu để tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Vũ Văn H 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 5 năm 2021.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,2130 gam (Không phẩy hai nghìn một trăm ba mươi gam) mẫu vâ ̣t gử i giám đi ̣nh và toàn bộ bao gói thu giữ của Vũ Văn H trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 182/KLGĐMT của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình.
Vật chứng trên đang được chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện và chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình ngày 20/8/2021.
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Vũ Văn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận - Bị cáo; - VKSND huyện Quỳnh Phụ; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Cơ quan CSĐT CA huyện Quỳnh Phụ; - Cơ quan THAHS CA huyện Quỳnh Phụ; - Sở Tư pháp Thái Bình; - Nhà tạm giữ CA huyện Quỳnh Phụ; - Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ; - UBND thi ̣ trấn A , huyê ̣n Q; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hƣơng Liên |