vanban.org

Bản án 79/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 23/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nông Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nông Minh N, 01 năm 01 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 06/6/2021. Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của Nông Minh N. Vật chứng là 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước ghi tang vật vụ Nông Minh N, giám định ngày 07/6/2021. Mặt sau trên các mép dán … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Minh N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nông Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÕA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHIÊM HÓA
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:79/2021/HS-ST
Ngày 23-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phúc An Hoành,

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ma Khánh Ly,

2. Bà Tưởng Thị Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bàn Thị Bích Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trung Hiếu, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2021/TLST - HS ngày 01 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2021/QĐXXST - HS ngày 10/9/2021 đối với bị cáo:

NÔNG MINH N, tên gọi khác: Không; sinh ngày 10/5/1983 tại huyện C, tỉnh T;

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện C, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 04/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Tiến C (đã chết) và bà Phạm Thị T; có vợ là Nguyễn Thị H (đã ly hôn) và có 02 con.

Tiền án: Không;

Tiền sự: Quyết định số: 09/QĐ-XPVPHCngày 24/6/2020 của UBND tỉnh T, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản, phạt tiền 60.000.000 đồng, chưa chấp hành nộp phạt.

Nhân thân: Bản án số 20/2017/HSST ngày 23/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong bản án ngày 28/4/2019.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ, ngày 06/6/2021, Nông Minh N một mình đi bộ từ nhà ra đường đi nhờ xe mô tô của một người không quen biết đến khu vực TĐ huyện C (thuộc thôn Đ, xã N, huyện C) mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, N xuống xe đi bộ một đoạn thì N nhìn thấy một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ hỏi và mua được 03 gói nhỏ có đặc điểm bên ngoài cả 03 gói đều gói bằng giấy bạc màu vàng, bên trong đều chứa chất bột vón cục màu trắng là ma túy, loại Heroine với số tiền 1.000.000 đồng. Mua được ma túy, N cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi nhờ xe mô tô của một người không quen biết về nhà. Khi về đến nhà N lấy 01 gói ma túy vừa mua được ra sử dụng bằng hình thức tiêm vào cơ thể, 02 gói ma túy còn lại N giấu vào đống ngói ở đầu nhà ở của mình. Khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, N lấy 01 gói ma túy đã cất giấu đi ra đường tìm chỗ vắng người để sử dụng, khi vừa ra đến đầu đường vào nhà (thuộc thôn Đ, xã N, huyện C) thì gặp tổ công tác Công an huyện C đang làm nhiệm vụ phát hiện, nghi N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên mời đến trụ sở UBND xã N, huyện C để làm việc. Quá trình làm việc N đã tự giác giao nộp gói ma túy trênvà khai nhận cất giấu nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang,thu giữ vật chứng là số ma túy nêu trên (Ký hiệu M1).

Hồi 21 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, Nông Minh N đã tự giác lấy tại khu vực đầu nhà mình bên phải cạnh tường trong đống ngói 01 gói ma túy đã cất giấu nêu trên để giao nộp, Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản và niêm phong gói ma túy trên (Ký hiệu M2).

Tại Biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy hồi 22 giờ 55 phút ngày 06/6/2021 tại Công an huyện Chiêm Hóa đối với Nông Minh N, kết quả: (+) Dương tính với chất ma túy.

Kết luận giám định số 540 ngày 11/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu giữ của Nông Minh N là chất ma túy, loại Heroine; tổng khối lượng là 0,125g (không phẩy một hai năm gam).

Cáo trạng số 71/CT-VKSCH ngày 01/9/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố Nông Minh N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Nông Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính:Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Nông Minh N từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/6/2021.

Hình phạt bổ sung phạt tiền: Bị cáo tàng trữ trái phép ma túy mục đích sử dụng cho bản thân không có vụ lợi, không có tài sản riêng có giá trị, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với số ma túy thu giữ trong 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước ghi tang vật vụ Nông Minh N, giám định ngày 07/6/2021. Mặt sau trên các mép dán có chữ ký xác nhận của Nông Minh N và 05 (Năm) hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nông Minh N, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ xử lý trong vụ án.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nông Minh N, Công an huyện Chiêm Hóa đã xử phạt vi phạm hành chính, nên không phải xem xét.

Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Nông Minh N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Xác định đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệutrong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 06/6/2021, tại thôn Đ, xã N, huyện C, tỉnh T, Nông Minh N đã có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy, loại Heroine; tổng khối lượng 0,125g (không phẩy một hai năm gam),nhằm mục đích để sử dụng, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ trái phép trong phạm vi khối lượng ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (từ 0,1 gam đến 05 gam). Đủ cơ sở xác định bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Ma Túy là chất gây nghiện, có tác hại cho sức khỏe con người, là nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm tội, sa sút về kinh tế, gây đổ vỡ hạnh phúc gia đình..., nhưng bị cáo đã đi ngược lại quy định Nhà nước, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vi phạm pháp luật, gây mất ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[3] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, do đó phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là có nhân thân xấu, ngày 24/6/2020 bị UBND tỉnh T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản, phạt tiền 60.000.000 đồng, hiện chưa chấp hành nộp phạt. Ngày 23/5/2017, bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong bản án ngày 28/4/2019. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố đẻ của bị cáo là ông Nông Tiến C được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Ba và bà Phạm Thị T mẹ đẻ của bị cáo được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm chung; nội dung buộc tội, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cho thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, do đó cần phải áp dụng mức án tương xứng với mức độ thực hiện hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe,cải tạo, giáo dục bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời làm gương phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về vật chứng vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo Nông Minh N xét thấy đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Nông Minh N, quá trình điều tra do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ xử lý trong vụ án. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nông Minh N, Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã ra quyết định xử phạt hành chính nên không phải xem xét

[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy sử dụng cho bản thân không có vụ lợi, bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo; không thực hiện tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc cấm hành nghề làm công việc nhất định đối với bị cáo.

[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nông Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nông Minh N, 01 năm 01 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 06/6/2021.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của Nông Minh N. Vật chứng là 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước ghi tang vật vụ Nông Minh N, giám định ngày 07/6/2021. Mặt sau trên các mép dán có chữ ký xác nhận của Nông Minh N và 05 (Năm) hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 08 tháng 9 năm 2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa.

Nông Minh N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 23/9/2021.

Cỡ chữ