- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh C (tên gọi khác: N) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA TỈNH ĐẮK NÔNG -------------------------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2020/HS-ST Ngày: 18 - 11 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đặng Thị Tâm
2. Bà Cù Thị Như Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Quốc Chương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường Nghĩa Tân, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh C (tên gọi khác: N), sinh năm 1991 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn 8, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành P và bà Nguyễn Thị Hồng C; chưa có vợ, con; tiền án: 01 tiền án về tội “Cướp tài sản”, tại bản án hình sự sơ thẩm số 44/2014/HS-ST ngày 26/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 07 năm tù, ngày 02/02/2019 chấp hành xong hình phạt, chấp hành xong án phí (chưa được xóa án tích); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2020, đang tạm giam - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 27/6/2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Thanh C gọi điện cho Lê Thị L rủ L đến khách sạn H thuộc tổ dân phố 2, phường N, thành phố G để cùng sử dụng ma túy, thì L đồng ý. Sau khi thuê phòng số 07, C gọi điện cho Nguyễn Văn T và nói với T mang nỏ (dụng cụ sử dụng ma túy) lên cho C thì T đồng ý. Đến 21 giờ 30 cùng ngày, khi đang chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị Cơ
- 1 -
quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa bắt quả tang. Thu giữ trên người C 01 túi nilon, kích thước (4,8x7,0)cm, bên trong đựng các hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma túy), cùng một số đồ vật liên quan.
Quá trình điều tra, C khai nguồn gốc 01 túi nilon chứa hạt tinh thể màu trắng là ma túy, Cầu mua của đối tượng tên T1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) vào ngày 25/6/2020 tại thành phố B, tỉnh Lâm Đồng với giá 1.000.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
- 01 túi nilon kích thước (4,8x7,0)cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng (được niêm phong trong bì thư ký hiệu số 01).
- 01 túi vải có khóa kéo, màu xám caro, kích thước (8,5x5,0)cm (dùng để đựng ma túy).
- 01 ống hút bằng nhựa hình tròn, màu trắng sọc đỏ, dài 6,0cm, đường kính 0,5cm, một đầu được cắt vát nhọn.
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 lọ nhựa màu hồng nhạt, đáy có hình trái tim, cao 9,1cm, trên nắp lọ gắn 01 ống thủy tinh màu trắng có vòi cong, bị vỡ một đầu và 01 ống hút bằng nhựa.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng, có số IMEI1: 86306903891174 và số IMEI2: 86306903891166; bên trong gắn 02 sim điện thoại số 0364478486 và 0797526625 (được niêm phong trong bì thư ký hiệu số 02).
Tại Kết luận giám định số 97/KLMT-PC09 ngày 02/7/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Tinh thể màu trắng được niêm phong trong bì thư ký hiệu số 01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng mẫu là 1,4083 gam là Methamphetamine. Hoàn lại sau giám định: 0,9833 gam.
Tại bản Cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 06 tháng 10 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông đã truy tố Nguyễn Thanh C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng, thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thanh C từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy chất ma túy 0,9833 gam loại Methamphetamine còn lại sau giám định và các dụng cụ sử dụng ma túy.
- 2 -
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng là tài sản hợp pháp của bị cáo nên đề nghị trả lại cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do Nguyễn Thanh C không có tài sản, không có việc làm và thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đối với Lê Thị L và Nguyễn Văn T qua xét nghiệm cả L và T đều âm tính với ma túy, nên không đề nghị xử lý.
Đối với đối tượng tên T1, là người đã bán ma túy cho Nguyễn Thanh C do chưa rõ nhân thân, lai lịch nên tiếp tục, xác minh làm rõ, nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu đã thu thập hợp pháp được lưu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 27/6/2020, tại phòng số 07 khách sạn H thuộc tổ dân phố 2, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Thanh C đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 1,4083 gam chất ma túy loại Methamphetamine để sử dụng.
(Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 323 Ban hành kèm theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ).
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thanh C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) … Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…”.
- 3 -
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nên cần xử phạt bị cáo hình phạt tù với mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo C đã có 01 tiền án về tội “Cướp tài sản” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo được xác định là “Tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Thanh C hiện tại chưa có tài sản, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Đối với Lê Thị L và Nguyễn Văn T qua xét nghiệm cả L và T đều âm tính với ma túy, nên không đề cập xử lý.
Đối với đối tượng tên T1, là người đã bán ma túy cho Nguyễn Thanh C do chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục, xác minh làm rõ, nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 0,9833 gam ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì đã được niêm phong ký hiệu 97/PC09 là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 túi vải, 01 ống hút bằng nhựa, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm có 01 lọ nhựa và 01 ống hút bằng nhựa là các dụng cụ sử dụng ma túy và đựng ma túy, không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng được đựng trong bì thư ký hiệu số 02 là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thanh C nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông truy tố Nguyễn Thanh C về tội danh và điều luật như Cáo trạng là có căn cứ, quan điểm đề nghị về mức hình phạt, về xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, nên cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh C phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- 4 -
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thanh C có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh C (tên gọi khác: N) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/6/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy: 0,9833 gam ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì đã được niêm phong ký hiệu 97/PC09; 01 túi vải, 01 ống hút bằng nhựa hình tròn, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm có 01 lọ nhựa màu hồng nhạt và 01 ống hút bằng nhựa (có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2020 giữa Công an thành phố Gia Nghĩa và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa).
Trả lại cho Nguyễn Thanh C 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng được đựng trong 01 phong bì đã được niêm phong ký hiệu 02 (có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2020 giữa Công an thành phố Gia Nghĩa và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Nguyễn Thanh C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng PC06, PC10 Công an tỉnh Đắk Nông; - VKSND thành phố Gia Nghĩa; - Công an thành phố Gia Nghĩa; - Phòng HS, NV Công an thành phố Gia Nghĩa; - Chi cục THADS thành phố Gia Nghĩa; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. - 5 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký, đóng dấu Lê Xuân Diệu |