vanban.org

Bản án 79/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 16/10/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D phạm tội “Đánh bạc”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trong thời gian thử thách giao bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D cho Uỷ ban nhân dân xã Ea Ral, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục. Gia đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Mỹ D phạm tội "Đánh bạc". - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D phạm tội “Đánh bạc”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA HLEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2020/HS-ST
Ngày 16-10-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA HLEO, TỈNH ĐĂK LĂK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nụ.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Đức – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo tham gia phiên tòa: Ông Mai Xuân Huân – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2020, tại phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý 80/2020/HSST ngày 07/10/2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2020/QĐXXST-HS ngày 12/10/2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm: 1971, tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: T3, xã ER, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thúc B (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, có chồng là Nguyễn Huy C; Bị cáo có 02 người con, con thứ nhất sinh năm 1996, con thứ hai sinh năm 2002;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/9/2020, đến ngày 10/9/2020 được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, cho gia đình bảo lĩnh (có mặt).

- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Huy C, sinh năm 1971. Nơi cư trú: T3, xã ER, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).

- Người làm chứng:

1. Anh Ngô Thế Đ, sinh năm 1998. Nơi cư trú: T3, xã EK, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

2. Anh Trần Duy T, sinh năm 1973. Nơi cư trú: T12, thị trấn ED, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

3. Anh Lê Ngọc S, sinh năm 1981. Nơi cư trú: T8, xã ER, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).

4. Ông Hoàng Đình Ch, sinh năm 1960. Nơi cư trú: T3, xã ER, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).

5. Ông Trần Văn M, sinh năm 1961. Nơi cư trú: T3, xã ER, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

NỘI D VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 18 giờ 00 ngày 06/9/2020, Công an huyện Ea H’Leo phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị Mỹ D đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức nhận ghi số đề bao lô được thua bằng tiền cho Ngô Thế Đ, Trần Duy T, Hoàng Đình C và Lê Ngọc S. Quá trình điều tra xác định: Dựa vào kết quả của Đài Xổ số kiến thiết Miền Bắc quay thưởng vào lúc 18 giờ 15 phút và kết thúc lúc 18 giờ 30 phút ngày 06/9/2020 làm kết quả dò số đề, bao lô. D, Đ, T, Ch, S thống nhất hình thức đánh bạc như sau: D là cái (chủ đề), Đ, T, Ch, S là con (người chơi đề). Đánh đề là đánh hai số cuối của giải đặc biệt và giải bảy nếu trúng sẽ lấy số tiền đánh nhân với 80 lần thì ra số tiền mà Đ, T, Ch, S thắng được. Đánh bao lô là đánh hai số cuối của tất cả các giải (27 giải), quy ước 1 điểm là 24.000 đồng, nếu đánh bao lô trúng một số trên các giải sẽ lấy số điểm đánh bao lô nhân với 80 lần, nếu trúng hai giải tiếp tục nhân đôi, trúng ba giải thì nhân với ba, cứ như vậy nhân lên nếu trúng với số giải tương ứng thì ra được số tiền mà Đ, T, Ch, S thắng được. Nếu không trúng giải nào thì Đ, T, Ch, S sẽ bị thua số tiền ghi số đề, bao lô đã đưa cho D trước đó (tiền gốc). D sử dụng cây bút bi có đặc điểm bằng nhựa, kẻ sọc trắng - xanh ghi các con số đề, bao lô của Đ, T, Ch, S cá cược vào 01 (một) tờ giấy màu vàng, loại giấy ghi chú (tịch đề), D xé các tờ giấy màu vàng, loại giấy ghi chú ra thành các tờ giấy nhỏ hình chữ nhật (gọi là cáp đề) và dùng bút ghi số đề, bao lô do Đ, T, S đánh vào cáp đề rồi đưa lại cho Đ, T, S giữ, riêng Ch do quen biết nên D không viết cáp đề. Tổng số tiền mà D đánh bạc dưới hình thức ghi số đề, bao lô là 5.900.000 đồng. Trong đó, Ngô Thế Đ ghi bao lô các số 76, 75, 67 mỗi số 40 điểm (tổng điểm là 120 điểm), tổng số tiền đánh bạc của Đ là 2.880.000 đồng; Trần Duy T ghi bao lô các số 77 với 50 điểm, 11 với 50 điểm (tổng điểm là 100 điểm), tổng số tiền đánh bạc của T là 2.400.000 đồng; Hoàng Đình Ch ghi bao lô các số 81x5 điểm, đánh đề số 81 đầu 5.000 đồng, tổng số tiền Ch đánh bạc là 140.000 đồng, Lê Ngọc S ghi bao lô các số 17, 71, 91, 19 mỗi con 5 điểm, tổng số tiền S đánh bạc là 480.000 đồng. Tính đến thời điểm Công an huyện Ea H’Leo phát hiện và bắt quả tang đối với Nguyễn Thị Mỹ D thì Đài Xổ số kiến thiết miền Bắc chưa mở thưởng (chưa có kết quả) nên không có cơ sở để xác định được Nguyễn Thị Mỹ D, Ngô Thế Đ; Trần Duy T; Hoàng Đình Ch và Lê Ngọc S thắng hay thua.

Tại Kết luận giám định số: 884/GĐTL-PC09 ngày 30/9/2020, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chữ viết trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3, A4 (trừ chữ viết có nội D “Đ Ngô Thế Đ” trong tài liệu cần giám định ký hiệu A1; “T Trần Duy T” trong tài liệu cần giám định ký hiệu A2; “S Lê Ngọc S” trong tài liệu cần giám định ký hiệu A3) so với chữ viết đứng tên Nguyễn Thị Mỹ D trong các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, là do cùng một người viết ra.

Tại Biên bản kết luận số: 944/BB-ĐGTS ngày 30/9/2020 của Hội đồng định giá trài sản huyện Ea H'Leo, kết luận: 01 khoảng đất nền xi măng (tại nơi diễn ra việc đánh bạc, ghi đề) có kích thước 5,5m x 6m; mái lợp tôn, khung bằng kim loại, vị trí tại góc phía tây bắc trong mái vòm của quán cà phê M của Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1971; địa chỉ T3, xã ER, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, được xây dựng năm 2011. Định giá tại thời điểm ngày 06/9/2020. Tổng giá trị cần định giá là 3.870.000 đồng.

Tang vật thu giữ gồm: Trên người Nguyễn Thị Mỹ D số tiền 5.900.000 đồng là tiền đánh bạc; 01 cây bút bi mà D dùng để ghi các con số đề; 01 tờ giấy D ghi các con số đề; thu giữ trên người Đ 01 tờ giấy cáp đề, trên người T 01 tờ giấy cáp đề, trên người Lê Ngọc S 01 tờ giấy cáp đề.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 03/QĐ-VKS, ngày 06/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Ea H’leo để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D, về tội: Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D phạm tội: Đánh bạc;

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách bằng hai lần mức án Tòa tuyên.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị hội đồng xét xử tuyên:

Tịch thu sung ngân sách Nhà Nước số tiền 5.900.000 đồng, là tiền thu lợi bất chính từ việc đánh bạc;

Tịch thu tiêu hủy 01 cây bút bi mà bị cáo D dùng để ghi các con số đề;

Truy thu buộc bị cáo D phải nộp số tiền 1.935.000 đồng, là ½ giá trị khoảng đất để sung vào ngân sách Nhà Nước.

Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với hộ nghèo.

Đối với của Ngô Thế Đ, Trần Duy T, Hoàng Đình Ch, Lê Ngọc S. Quá trình điều tra xác định chưa có tiền án, tiền sự; mặt khác số tiền những người nêu trên sử dụng để đánh bạc chưa đủ yếu tố cấu thành tội “ Đánh bạc” theo khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự. Ngày 30/9/2020 Công an huyện Ea H’Leo đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt cảnh cáo đối với Ngô Thế Đ, Trần Duy T, Hoàng Đình Ch và Lê Ngọc S, về hành vi mua các số lô, số đề, nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Ea H’Leo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo về cơ bản phù hợp nội D truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 03/QĐ-VKS, ngày 06/10/2020 đối với bị cáo; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Vào lúc 18 giờ ngày 06/9/2020, tại quán cà phê Mộc của gia đình bị cáo D ở T3, xã ER, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo D đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức ghi số đề với Ngô Thế Đ, Trần Duy T, Hoàng Đình Ch và Lê Ngọc S thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo bắt quả tang. Tổng số tiền thu được trên người bị cáo D khi bắt phạm tội quả tang là 5.900.000 đồng.Tính đến thời điểm bắt quả tang đối với bị cáo D, thì Đài Xổ số kiến thiết miền Bắc chưa mở thưởng (chưa có kết quả) nên không có cơ sở để xác định được Nguyễn Thị Mỹ D, Ngô Thế Đ, Trần Duy T, Hoàng Đình Ch và Lê Ngọc S thắng hay thua.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự;

Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định như sau:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo biết rõ hành vi ghi số đề là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự công cộng, nhưng vì ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Trong vụ án này, bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự; Gia đình bị cáo là hộ nghèo, bản thân bị cáo bị bệnh hiểm nghèo do ung thư vú từ năm 2018 cho đến nay, đang điều trị bệnh và tái khám thường xuyên theo chỉ định của bác sĩ Bệnh viện ung bướu tại thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chữa bệnh và tự rèn luyện mình dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo.

Xét lời luận tội của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật, nên cần chấp nhận.

Đối với 01 khoảng đất nền xi măng có kích thước 5,5m x 6m; mái lợp tôn, khung bằng kim loại, vị trí tại góc phía tây bắc trong mái vòm của quán cà phê Mộc, là nơi diễn ra việc đánh bạc, ghi đề, có giá trị là 3.870.000 đồng. Đây là tài sản chung của bị cáo D và ông Nguyễn Huy C, khi bị cáo D sử dụng địa điểm này đề ghi số đề, thì ông C không biết, nên không có căn cứ xử lý đối với ông C. Tuy nhiên, cần truy thu buộc bị cáo D phải nộp số tiền 1.935.000 đồng, để sung vào ngân sách Nhà Nước. Đây là ½ giá trị khoảng đất nêu trên mà bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội.

Đối với của Ngô Thế Đ, Trần Duy T, Hoàng Đình Ch, Lê Ngọc S. Quá trình điều tra xác định chưa có tiền án, tiền sự; mặt khác số tiền những người nêu trên sử dụng để đánh bạc chưa đủ yếu tố cấu thành tội “ Đánh bạc” theo khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự. Ngày 30/9/2020 Công an huyện Ea H’Leo đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt cảnh cáo đối với Ngô Thế Đ, Trần Duy T, Hoàng Đình Ch và Lê Ngọc S về hành vi mua các số lô, số đề. Vì vậy, HĐXX không đề cập giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà Nước số tiền số tiền 5.900.000 đồng thu giữ khi bắt phạm tội quả tang, là tiền do bị cáo thu lợi bất chính từ việc đánh bạc;

Cần tịch thu tiêu hủy 01 cây bút bi mà bị cáo D sử dụng vào việc phạm tội, vì không còn giá trị sử dụng;

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D là hộ nghèo, nên được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D phạm tội “Đánh bạc”;

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong thời gian thử thách giao bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D cho Uỷ ban nhân dân xã Ea Ral, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

[2]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà Nước số tiền 5.900.000 đồng, là tiền bị cáo D thu lợi bất chính từ việc đánh bạc;

Tuyên truy thu buộc bị cáo D phải nộp số tiền 1.935.000 đồng, để sung vào ngân sách Nhà Nước.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây bút bi mà bị cáo D dùng để ghi các con số đề;

(Đặc điểm các vật chứng lưu tại hồ sơ vụ án).

[3]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ D được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm

[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ