vanban.org

Bản án 79/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 21/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt S 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/3/2020 đến ngày 25/3/2020. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng và số ma túy được đựng trong 01 phong bì dán kín do Phòng Kỹ t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2020/HS-ST
Ngày: 21/7/2020

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Hữu Trọng

- Bà Nguyễn Thị Thanh Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đắc Hùng - Thư ký của Tòa án nhân dân huyện

Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2020, đối với bị cáo:

S, sinh năm 1996 tại H. Nơi cư trú: Xóm N, thôn V, xã V, huyện C, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông S và bà L; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định số 233/QĐ-XPVPHC ngày 21/6/2018 của Công an huyện C, thành phố H xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản (bị cáo chưa nộp tiền phạt).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 19/3/2020 đến ngày 25/3/2020, hiện tại ngoại. Danh chỉ bản số 204 lập ngày 20/3/2020 tại Công an huyện C, thành phố H. Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Đ, ông Đ - đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 19/3/2020, S đến khu vực ngã ba B, xã B, huyện T, thành phố H mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng. Khoảng 09 giờ 50 phút cùng ngày, khi S về đến khu vực cầu P, thuộc thôn V, xã V, huyện C, thành phố H thì bị tổ công tác Công an xã V kiểm tra hành chính và phát hiện, thu giữ trên người S 01 gói giấy có in màu và chữ in chứa chất bột màu trắng và 01 xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng.

Tại kết luận giám định số 2367/KLGĐ-PC09 ngày 26/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy có in màu và chữ in là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,131 gam.

Tại Cáo trạng số 78/CT-VKS ngày 17/6/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, thành phố H truy tố S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt S từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy và 01 xi lanh kim tiêm đã thu giữ.

- Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Ngày 19/3/2020, S đến khu vực ngã ba B, xã B, huyện T, thành phố H mua ma túy để sử dụng. Khoảng 09 giờ 50 phút cùng ngày, khi Đỗ Xuân Sim về đến khu vực cầu V, thuộc thôn V, xã V, huyện C, thành phố H thì bị cơ quan Công an phát hiện, thu giữ 01 gói ma túy loại Heroine, khối lượng 0,131 gam và 01 xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng.

. Hành vi tàng trữ 0,131 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng của S là trái phép, đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, thành phố H truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến các quy định của nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma tuý, gây mất ổn định tình hình trật tự, an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội trong khi đang có 01 tiền sự chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, do vậy cần có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: 01 gói ma túy loại Heroine là vật cấm lưu hành và 01 xi lanh kim tiêm không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên thì thấy: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hoàn toàn đúng với các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Tuyên bố bị cáo S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt S 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/3/2020 đến ngày 25/3/2020.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng và số ma túy được đựng trong 01 phong bì dán kín do Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên, của cán bộ Công an niêm phong và chữ ký của đối tượng S (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/6/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, thành phố H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, thành phố H).

4. Về án phí: Buộc bị cáo S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ