vanban.org

Bản án 79/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 25/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS;

Tuyên bố: Bị cáo Lại Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Xử phạt bị cáo Lại Hoàng T 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/5/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lại Hoàng T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2019/HSST
Ngày: 25/7/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Bình.

Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tú.

Bà Nguyễn Thị Thinh.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Bích Phượng, Thư ký - Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N - tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Đăng Chuẩn, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2019. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và Tên: Lại Hoàng T, (Tên gọi khác: Không); Giới tính: nam; Sinh năm 1993, tại Ninh Bình; Nơi cư trú: số nhà 139, đường L, phố P, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lại Văn M và bà Hoàng Thị L; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Chưa có;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/5/2019 đến ngày 05/6/2019 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay, (có mặt).

Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Xuân T1, (Vắng mặt).

2. Anh Vũ Ngọc P, (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 30/5/2019, T điều khiển xe mô tô Honda biển kiểm soát 3...-0020 từ nhà sang khu vực xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua của một người không quen biết 300.000 đồng được 1 gói ma túy đá gói ngoài bằng túi nilon màu trắng bên trong là chất tinh thể màu trắng. Sau khi mua được ma túy, T cầm trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe mô tô về thành phố N tìm chỗ sử dụng. Khi đến khu vực đường V, thuộc phố 10, phường V, thành phố N thì gặp Tổ tuần tra Công an phường V đang làm nhiệm vụ, T đã tự giác giao nộp túi nilon mầu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng đang cầm trong lòng bàn tay trái cho Tổ công tác và khai nhận là gói ma túy đá T vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ, niêm phong gói ma túy do T giao nộp theo quy định, đưa T cùng vật chứng về trụ sở Công an phường V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của Lại Hoàng T 01 xe mô tô Honda biển kiểm soát 3...-0020 và 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng.

Tiến hành cân xác định trọng lượng chất tinh thể dạng cục màu trắng thu giữ của Lại Hoàng T có khối lượng 0,35 gam, ký hiệu M gửi giám định để xác định loại chất ma túy, khối lượng chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 167/KLGĐ-PC09-MT ngày 03/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,3435 ( Không phẩy ba nghìn bốn trăm ba mươi lăm) gam là ma túy, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định số 167/KLGĐ-PC09-MT ngày 03/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình.

Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 25/03/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố N đã truy tố bị cáo Lại Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lại Hoàng T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS; xử phạt Lại Hoàng T từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2019.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS); Tịch thu tiêu hủy 0,2528 gam Methamphetamin còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu do cơ quan giám định hoàn trả lại.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Kết luận giám định số 167/KLGĐ-PC09-MT ngày 03/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận hồi 16 giờ 00 phút ngày 30/5/2019, tại khu vực đường V, phố 10, phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Lại Hoàng T có hành vi cất giữ trái phép 0,3435 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân bị phát hiện, bắt giữ. (Methamphetamine là chất ma tuý thuộc bảng Danh mục II có STT 323; nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định danh mục chất ma túy).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma tuý; Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự đồng thời biết rất rõ tác hại của ma túy và việc mua bán, tàng trữ, sử dụng ma tuý bị nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự, thấy: hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản Cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Do đó, hành vi cất giữ trái phép 0,3435 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi gặp Tổ công tác Công an phường V đang làm nhiệm vụ kiểm tra hành chính, bị cáo đã tự giác giao nộp túi nilon mầu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng đang cầm trong lòng bàn tay trái cho Tổ công tác và khai nhận là gói ma túy đá bị cáo vừa mua để sử dụng cho bản thân; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt, tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích vụ lợi vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,2528 gam chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu giám định ký hiệu M là ma túy, loại Methamphetamine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu do cơ quan giám định hoàn trả lại được niên phong trong 02 phong bì là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định.

Các vấn đề khác:

- Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu trắng thu giữ của T quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án cùng với 01 xe mô tô Honda biển kiểm soát 3...-2020 quá trình điều tra xác định là xe của chị Hoàng Thị L sinh năm 1973 trú tại số nhà 139, đường L, phố P, phường P, thành phố N là mẹ của T. Ngày 30/5/2019, chị L cho Thanh mượn xe mô tô trên để đi làm việc T sử dụng xe để đi mua ma túy chị L không biết nên không vi phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cùng chiếc điện thoại Iphone 6 màu trắng do T ủy quyền cho chị L là có căn cứ đúng pháp luật.

- Về nguồn gốc gói Methampetamine thu giữ của Lại Hoàng T, T khai mua của một người không quen biết, thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. T không biết tên, tuổi, đặc điểm nhận dạng của người này nên cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra làm rõ.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS;

- Điều 47 BLHS; khoản 2 các điều 106, 135, 136 BLTTHS; các điều 21, 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu án phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lại Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;

Xử phạt bị cáo Lại Hoàng T 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/5/2019.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong theo quy định.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/7/2019 giữa Cơ quan CSĐT công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo Lại Hoàng T phải chịu 200.000đ.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ