- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2019/HS-ST Ngày: 31-7-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Toµ ¸n nh©n d©n thµnh phè S¬n La, TØnh S¬n La
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quàng Văn Khoa.
2. Bà Bùi Thị Bưởi.
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Mai Chi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Hoàng Mạnh Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh ngày 27 tháng 7 năm 1991 tại Kim Động, Hưng Yên; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ r, phường Tô H, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Phạm Văn T, sinh năm 1956 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1960; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05 tháng 3 năm 2019 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 20 phút ngày 05/3/2019, tổ công tác Công an phường Chiềng An, thành phố Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 1, phường Chiềng An, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã phát hiện, bắt quả tang Phạm Văn T đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) gói giấy màu trắng trong chứa cục bột màu trắng (Tuyến tự giác lấy trong túi quần phía sau bên trái đang mặc ra giao nộp).
Cùng ngày 05 tháng 3 năm 2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng, kết quả cân tịnh:
Số cục, bột màu trắng thu giữ trong gói giấy màu trắng có khối lượng 0,14 gam. Lấy 0,02 gam làm mẫu gửi giám định chất ma túy (ký hiệu T). Còn lại 0,12 gam lưu kho vật chứng (ký hiệu T1).
Kết luận giám định số 546 ngày 07/3/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu giám định ký hiệu T là chất ma túy; Loại chất Heroine; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,02 gam. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được là 0,14 gam, loại chất Heroine”. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra, Phạm Văn T khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 05/3/2019, Phạm Văn T đón xe Buýt đi từ nhà thuộc tổ r, phường Tô H, thành phố Sơn La, đến khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La thuộc tổ 4, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, T đã gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ không quen biết 01 (một) gói Heroine với giá 100.000 đồng. Sau đó, Tuyến cất gói ma túy vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi bộ đến khu vực cầu bản Cá thuộc tổ 1, phường Chiềng An, thành phố Sơn La tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác công an phường Chiềng An, thành phố Sơn La phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Về nguồn gốc 0,14 gam Heroine bị thu giữ: Bị cáo Phạm Văn T khai mua của 01 người phụ nữ không quen biết vào ngày 05/3/2019 tại khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La thuộc tổ 4, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Do có hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số 55/CT-VKSTP ngày 18/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 12 đến 15 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (một) mảnh giấy màu trắng; T1=0,12 gam Heroine còn lại sau khi đã lấy mẫu gửi giám định.
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả cân tịnh vật chứng, kết luận giám định; nhất trí với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát; nhất trí với bản luận tội cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phần tranh luận; bị cáo tỏ ra ăn năn và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn T đều có lời khai nhận tội thống nhất với nội dung đã cất giấu trái phép 0,14 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Lời khai của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 13 giờ 20 phút ngày 05/3/2019 tại tổ 1, phường Chiềng An, thành phố Sơn La đối với Phạm Văn T cùng vật chứng thu giữ là 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất cục, bột màu trắng có tổng khối lượng 0,14 gam được giám định là Heroine; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 546 ngày 07/3/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La. Đồng thời phù hợp với lời khai của anh Vũ Mạnh H, sinh năm 1970, trú tại tổ 1, phường Chiềng A, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La là người đã chứng kiến Cơ quan điều tra bắt quả tang đối với Phạm Văn T.
Với các căn cứ chứng minh trên đã có đủ cơ sở kết luận, ngày 05/3/2019 bị cáo Phạm Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép 0,14 gam ma túy, là chất Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Khi thực hiện hành vi tàng trữ phép chất ma túy bị cáo đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức cũng như điều khiển hành vi. Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì “Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c,… Methamphetamine…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam ”. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đối chiếu với các quy định pháp luật, Hội ®ång xÐt xö thÊy cần thiết xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, đảm bảo biện pháp cải tạo, giáo dục riêng, phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 0,12 (không phẩy mười hai) gam Heroine còn lại thu giữ trong vụ án sau khi đã lấy mẫu gửi giám định là chất ma túy pháp luật Nhà nước cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 (một) giấy màu trắng là vật dùng để cất giấu ma túy và vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Phạm Văn T khai mua của 01 (một) người phụ nữ không quen biết vào ngày 05/3/2019 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La thuộc tổ 4, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Do đó buộc Phạm Văn T phải chịu trách nhiệm về số ma tuý bị thu giữ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 05/3/2019).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì công văn của Công an thành phố Sơn La đã niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “ Vật chứng lưu kho vụ Phạm Văn T. Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 05/3/2019. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy màu trắng; mẫu T1 = 0,12 gam", mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong có 01 dấu tròn đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La và 06 chữ ký, 06 dòng họ tên của thành phần tham gia niêm phong, kiểm tra niêm phong còn nguyên vẹn.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/6/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 31/7/2019)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND TP Sơn La; - Công an TP Sơn La; - Bị cáo; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - THADS TP Sơn La; - THAPT; - Lưu: hồ sơ, án văn. | T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Phượng |