vanban.org

Bản án 79/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 04/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa bản án sơ thẩm.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Tphạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2019.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 51/2019/HS-ST Tuyên án 10/07/2019
Phúc thẩm — đang xem Bản án 79/2019/HS-PT Tuyên án 04/10/2019

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2019/HS-PT
Ngày: 04 - 10 – 2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Minh Hồng.

Các Thẩm phán:

Bà Vũ Thị Thu.

Ông Vũ Hà Nam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Xuân Sơn – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh

Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:

Bà Đinh Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 59/2019/TLPT-HS ngày 21 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn T và các bị cáo khác do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2019/HS-ST ngày 10 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thuỷ.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm: 1977; Giới tính: nam. Nơi cư trú: xóm 10 xã BH, huyện GT, tỉnh NĐ; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) 9/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Nhuế, sinh năm 1945, con bà Lại Thị Nhẫn, sinh năm 1947; vợ: Phùng Thị Nhung, sinh năm 1983 có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt từ ngày 24-3-2019. Có mặt.

- Ngoài ra còn có 09 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ ngày 24-3-2019, sau khi ăn cỗ đám cưới tại nhà anh Nguyễn Văn An, Nguyễn Văn Tsang nhà anh Nguyễn Văn Minh để dọn dẹp (vì anh An nhờ Trung mắc rạp làm cỗ tại nhà anh Minh). Khi sang nhà anh Minh, Trung thấy trong gian bếp có nhiều người (nhưng không nhớ là có những ai) đang đứng và ngồi quanh chiếc chiếu trải giữa gian bếp chuẩn bị đánh bạc. Giữa chiếu có 01 bộ bát đĩa sứ, 04 quân bài vị hình tròn. Cùng lúc đó có người bảo Trung “Ông không chơi, ông vào sóc cái cho mọi người chơi”. Trung đồng ý và vào sóc cái, cùng tham gia đặt cửa ăn tiền với mọi người với mức đặt cửa thấp nhất là 50.000đồng, cao nhất không hạn chế. Sau đó, Đặng Văn Thắng, Phạm Văn Chuẩn, Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Văn Lễ đến cùng tham gia. Đến khoảng 14 giờ 25’ cùng ngày, Nguyễn Văn Đông đang ở nhà nghe thấy ở nhà Minh có đánh bạc nên điện thoại cho Đỗ Văn Bình rủ Bình cùng đến nhà Minh đánh bạc. Sau đó thì có Đỗ Văn Kiều, Phạm Văn Thượng, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Văn Trọng đến nhưng Trọng không tham gia đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì bị tổ tuần tra Công an huyện Giao Thuỷ phát hiện bắt quả tang, một số đối tượng bỏ chạy. Thu giữ tại chiếu bạc 20.600.000đồng, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bài vị, 01 chiếu cói. Thu trên người các đối tượng 67.610.000đồng, 11 điện thoại di động.

Tại cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc ăn tiền của mình như nêu trên và xác định: Nguyễn Văn Tlà người sóc cái, có 300.000đồng sử dụng để đánh bạc. Đỗ Văn Bình mang theo 45.000.000đồng, sử dụng 5.000.000đồng để đánh bạc, số tiền 40.000.000đồng thu giữ trên người Bình khai nếu ai có nhu cầu vay thì sẽ cho vay. Phạm Văn Chuẩn mang theo 1.010.000đồng sử dụng để đánh bạc, khi bị bắt thu trên người 710.000đồng. Nguyễn Văn Lễ mang theo 7.500.000đồng, sử dụng 1.500.000đồng để đánh bạc, khi bị bắt thu trên người 6.000.000đồng. Nguyễn Văn Đông mang theo 12.000.000đồng, sử dụng 2.000.000đồng để đánh bạc, số tiền 10.000.000đồng còn lại nếu ai có nhu cầu vay thì sẽ cho vay, khi bị bắt thu trên người 11.800.000đồng. Nguyễn Văn Dũng mang theo 1.200.000đồng để đánh bạc, khi bị bắt thu trên người 450.000đồng. Phạm Văn Thượng mang theo 300.000đồng để đánh bạc. Đỗ Văn Kiều mang theo 500.000đồng để đánh bạc. Đặng Văn Thắng mang theo 3.500.000đồng, sử dụng 500.000đồng để đánh bạc, khi bị bắt thu trên người 3.550.000đồng. Nguyễn Văn Thanh mang theo 3.500.00đồng và sử dụng 500.000đồng để đánh bạc, khi bị bắt đã bỏ hết xuống chiếu bạc.

* Với nội dung vụ án nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2019/HS-ST ngày 10-7-2019 của Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ, đã quyết định:

1.- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tphạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T01 (một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2019.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn Bình, Nguyễn Văn Đông, Phạm Văn Chuẩn, Nguyễn Văn Lễ, Nguyễn Văn Dũng, Đặng Văn Thắng phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Bình 11 (mười một) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 10 tháng tính từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/3/2019 đến ngày 06/5/2019).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đông 11 (mười một) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 10 tháng tính từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 25/3/2019 đến ngày 02/4/2019).

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Chuẩn 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 25/3/2019 đến ngày 02/4/2019).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Lễ 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 25/3/2019 đến ngày 02/4/2019).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Dũng 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 25/3/2019 đến ngày 02/4/2019).

Xử phạt bị cáo Đặng Văn Thắng 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 25/3/2019 đến ngày 02/4/2019).

Giao các bị cáo Đỗ Văn Bình, Nguyễn Văn Đông, Phạm Văn Chuẩn, Nguyễn Văn Lễ, Nguyễn Văn Dũng, Đặng Văn Thắng cho UBND xã Bình Hòa, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự: Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn Thượng, Đỗ Văn Kiều, Nguyễn Văn Thanh phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Thượng 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ, được khấu trừ đi số ngày đã bị tạm giữ (từ ngày 25/3/2019 đến ngày 02/4/2019) là 09 ngày, quy đổi 03 x 9 = 27 ngày; Phạm Văn Thượng còn phải chấp hành 01 (một) năm 11 (mười một) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Kiều 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ, được khấu trừ đi số ngày đã bị tạm giữ (từ ngày 25/3/2019 đến ngày 02/4/2019) là 09 ngày, quy đổi 03 x 9 = 27 ngày; Đỗ Văn Kiều còn phải chấp hành 01 (một) năm 11 (mười một) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Thanh 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ, được khấu trừ đi số ngày đã bị tạm giữ (từ ngày 25/3/2019 đến ngày 02/4/2019) là 09 ngày, quy đổi 03 x 9 = 27 ngày; Nguyễn Văn Thanh còn phải chấp hành 01 (một) năm 11 (mười một) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo tính từ ngày UBND xã nơi cư trú được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Phạm Văn Thượng, Đỗ Văn Kiều và Nguyễn Văn Thanh.

Giao các bị cáo Phạm Văn Thượng, Đỗ Văn Kiều, Nguyễn Văn Thanh cho Ủy ban nhân dân xã Bình Hòa, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.

2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự: Phạt tiền đối với Đỗ Văn Bình là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và Nguyễn Văn Đông 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo dùng đánh bạc là: 24.200.000 đồng (Hai mươi bốn triệu, hai trăm nghìn đồng) và 02 chiếc điện thoại di động các bị cáo đã sử dụng vào mục đích đánh bạc.

- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 chiếu cói, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bài vị đã thu giữ.

- Trả lại cho Đỗ Văn Bình 40.000.0000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) và Nguyễn Văn Đông 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

(Được ghi chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 04/6/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo.

* Ngày 25-7-2019, bị cáo Nguyễn Văn Tcó đơn kháng cáo xin được hưởng án treo để sớm hoà nhập với cộng đồng và là người có ích cho gia đình và cho xã hội.

* Tại phiên toà phúc thẩm:

- Bị cáo Nguyễn Văn Tthay đổi nội dung kháng cáo, chuyển sang xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định kết luận về vụ án: Đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ để xem xét giảm hình phạt. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về phần thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Tlàm trong thời hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên toà, bị cáo Trung thay đổi nội dung kháng cáo, chuyển sang xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy, việc thay đổi nội dung kháng cáo của bị cáo Trung không trái với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Khoảng 14 giờ ngày 24-3-2019, Nguyễn Văn T, Đỗ Văn Bình, Phạm Văn Chuẩn, Nguyễn Văn Lễ, Nguyễn Văn Đông, Nguyễn Văn Dũng, Phạm Văn Thượng, Đỗ Văn Kiều, Đặng Văn Thắng, Nguyễn Văn Thanh và một số đối tượng cùng nhau tụ tập tại nhà anh Nguyễn Văn Minh đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa ăn tiền. Trung là người xóc cái cho các đối tượng cùng chơi. Các đối tượng tham gia đánh bạc đến 15 giờ cùng ngày thì bị tổ tuần tra Công an huyện Giao Thuỷ phát hiện bắt quả tang, thu trên chiếu bạc số tiền 20.600.000đồng, thu trên người các đối tượng số tiền là 3.600.000đồng.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được Cơ quan điều tra thu thập, qua quá trình tranh tụng tại phiên toà. Xét thấy, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn Tvề tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét nhân thân, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt Nguyễn Văn T01 (một) năm tù là có căn cứ pháp lý.

Tuy nhiên, xét tổng thể vụ án nhận thấy, các bị cáo trong vụ án cùng đi đám cưới rồi tụ tập đánh bạc. Đây là vụ án có đông bị cáo nhưng là loại hình phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn Văn Tphạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo không phải là người rủ rê, khởi xướng hay cầm đầu; bị cáo là người đến sau, khi đến đã có nhiều người ngồi quanh chiếc chiếu trải giữa bếp chuẩn bị đánh bạc; số tiền mà bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là ít nhất trong số các bị cáo tham gia đánh bạc ngày 24-3-2019. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo có đơn đề nghị xem xét vì hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, con còn nhỏ, bố mẹ bị tai biến phải nằm viện, đơn được chính quyền địa phương xác nhận và đề nghị xem xét. Vì vậy, có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt giúp bị cáo lao động cải tạo để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội đồng thời cũng là thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Việt Nam đối với người phạm tội biết ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của bản thân. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét và chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn Tkhông phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa bản án sơ thẩm.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Tphạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2019.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Tkhông phải nộp.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ