- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Trúc xin ly hôn anh Khương"
- Tòa quyết gì? 1- Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lương Thị Tr và anh Nguyễn Văn Kh.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:79/2019/HNGĐ-ST Ngày 22 - 5- 2019 V/v chị Tr xin ly hôn anh Kh |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH N
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Xuân Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Văn Rạng
2. Ông Đàm Văn Kiều
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú - Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh N.
Ngày 22 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2019. Về tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2019/QĐST-HNGĐ ngày 03/5/2019 giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Lương Thị Tr - Sinh năm 1991 Địa chỉ: Xóm 9, xã N, huyện N, tỉnh N.
+ Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Kh- Sinh năm 1984 Địa chỉ: Xóm 9, xã N, huyện N, tỉnh N.
Tại phiên tòa có mặt chị Tr và anh Kh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện lập ngày 29/01/2019 cũng như lời khai chị Lương Thị Tr trong quá trình giải quyết trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn Kh vào tháng 01/2013 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh N. Sau khi kết hôn chị và anh Kh chung sống hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2017 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do hai bên luôn bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân và anh Kh nghi ngờ chị sống không chung thủy dẫn đến vợ chồng thường xảy ra cãi chửi nhau. Hai bên gia đình đã nhiều lần động viên khuyên giải nhưng quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Kh không được cải thiện. Từ tháng 10/2018 đến nay chị và anh Kh đã sống ly thân nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Kh không còn nên chị xin được ly hôn anh Nguyễn Văn Kh. Về con chung giữa chị và anh Nguyễn Văn Kh có một con chung là Nguyễn Lương Kh sinh ngày 05/01/2014, hiện đang do chị nuôi dưỡng và nay chị xin được tiếp tục trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Lương Kh. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung thì trước đây chị yêu cầu anh Kh phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng 3.000.000 đồng nhưng tại phiên tòa hôm nay chị không yêu cầu anh Kh phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị vì chị có đủ điều kiện kinh tế để bảo đảm nuôi dưỡng cháu Kh. Về tài sản chung giữa chị và anh Nguyễn Văn Kh thì chị không yêu cầu giải quyết. Về án phí chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Phía bị đơn là anh Nguyễn Văn Kh trình bày đúng như lời khai của chị Lương Thị Tr về việc kết hôn và quá trình sống chung giữa anh và chị Tr. Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị Tr phát sinh từ năm 2017, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, chị Tr sống không chung thủy với anh trong quan hệ vợ chồng nên trong cuộc sống vợ chồng xảy ra cãi chửi nhau. Đã nhiều lần anh đã khuyên giải nhưng chị Tr không thay đổi. Từ tháng 10/2018 đến nay thì anh và chị Tr sống ly thân nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị Tr không còn nên anh nhất trí ly hôn chị Tr. Về con chung giữa anh và chị Lương Thị một con chung là Nguyễn Lương Kh sinh ngày 05/01/2014, hiện đang do chị Tr nuôi dưỡng. Nay anh có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Kh và anh có đủ điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng tốt cháu Khang nên anh không yêu cầu chị Tr phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Về tài sản chung giữa anh và chị Lương Thị Tr thì anh không yêu cầu giải quyết. Về án phí anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Lương Thị Tr và anh Nguyễn Văn Kh đều cư trú tại xã N, huyện N, tỉnh N. Nay chị Lương Thị Tr có đơn xin ly hôn anh Nguyễn Văn Kh và Tòa án nhân dân huyện N thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Lương Thị Tr và anh Nguyễn Văn Kh được tổ chức kết hôn vào tháng 01/2013 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn chị Tr và anh Kh chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do hai bên không hợp tính nhau và do anh Kh nghi ngờ chị Tr sống không chung thủy, dẫn đến vợ chồng thường xảy ra cãi chửi nhau. Hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên giải nhưng quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị Tr và anh Kh không được cải thiện. Từ tháng 10/2018 đến nay chị Tr và anh Kh sống ly thân nhau. Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Tr và anh Kh đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị Tr có đơn xin ly hôn anh Kh và phía anh Kh cũng nhất trí nên chấp nhận là phù hợp.
Về con chung: Chị Lương Thị Tr và anh Nguyễn Văn Kh có một con chung là cháu Nguyễn Lương Kh sinh ngày 05/01/2014, hiện đang do chị Tr nuôi dưỡng. Nay chị Tr và anh Kh đều có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con chung, thấy hai bên đều có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu Kh nhưng thấy hiện tại cháu Kh còn nhỏ, đang do chị Tr nuôi dưỡng và nhiều năm nay chị Tr vẫn bảo đảm nuôi dưỡng cháu Kh tốt nên tiếp tục giao cháu Kh cho chị Tr nuôi dưỡng là phù hợp. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, thấy tại phiên tòa chị Tr không yêu cầu anh Kh phải cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên chấp nhận là phù hợp.
Về tài sản chung: Chị Lương Thị Tr và anh Nguyễn Văn Kh đều không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm chị Lương Thị Tr phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 55; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 6; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1- Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lương Thị Tr và anh Nguyễn Văn Kh.
2- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lương Kh sinh ngày 05/01/2014 cho chị Lương Thị Tr trực tiếp nuôi dưỡng (chị Lương Thị Tr đang quản lý, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lương Kh). Anh Nguyễn Văn Kh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Lương Thị Tr đối với cháu Nguyễn Lương Kh. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung.
3- Về án phí dân sự sơ thẩm chị Lương Thị Tr phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Lương Thị Tr đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: BB/2012/06147 ngày 05/3/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Chị Lương Thị Tr đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị Tr và anh Kh. Báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh N; - VKSND H N; - Chi cục THADS H N; - UBND xã N; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trần Xuân Dũng |