vanban.org

Bản án 79/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Từ Thị Ngọc M.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Từ Thị Ngọc M được ly hôn anh Nguyễn Chí B. [2] Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo N, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2017 cho chị Từ Thị Ngọc M nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Nguyễn Chí B không phải cấp dưỡng nuôi cháu N nhưng anh được quyền tới lui thă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Từ Thị Ngọc M và bị đơn Nguyễn Chí B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Từ Thị Ngọc M.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2019/HNGĐ - ST
Ngày: 29/11/2019.
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiệt

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lại Thiện Phong;

2. Bà Nguyễn Thị Hiểu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Từ Văn Nhứt - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Bà Lê Huyền Mao - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 227/2019/TLST–HNGĐ, ngày 13 tháng 9 năm 2019 về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2019/QĐXXST–HNGĐ, ngày 28 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Từ Thị Ngọc M, sinh năm 1992

Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Chí B, sinh năm 1995

Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu

(Chị Từ Thị Ngọc M vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Chí B vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/9/2019 và tại biên bản lấy lời khai ngày 11/10/2019 nguyên đơn chị Từ Thị Ngọc M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh Nguyễn Chí B có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 27/02/2017. Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau gần 01 năm nay. Nay chị M nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Chí B.

Về quan hệ con chung: Chị M xác định trong quá trình chung sống, giữa chị M và anh B có 01 người con chung, cháu tên Nguyễn Ngọc Bảo N, sinh ngày 21/11/2017. Hiện tại cháu N sống chung với chị M. Nghề nghiệp của chị M là công nhân, thu nhập bình quân cũng khoảng 6.000.000đ đến 7.000.000đ/tháng, chị đảm bảo nuôi con và đảm bảo cho cháu có cuộc sống ổn định. Nên chị M yêu cầu được nuôi cháu N, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Chí B không cung cấp lời khai của mình cho Tòa án, Tòa án có đến nơi cư trú của anh B để lấy lời khai nhưng anh B vắng mặt. Cơ quan có thẩm quyền tại địa phương nơi cư trú của anh B xác định: Anh Nguyễn Chí B vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nhưng hiện tại anh B vắng mặt nơi cư trú, khi bỏ đi thì không có trình báo hay xin vắng mặt. Từ đó, Tòa án tiến hành niêm yết công khai tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án đúng quy định pháp luật nhưng đến nay anh B vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi tham gia tố tụng cho đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Từ Thị Ngọc M được ly hôn với anh Nguyễn Chí B;

2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo N, sinh ngày 21/11/2017 cho chị M nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị M không yêu cầu cấp dưỡng cho cháu N nên không đặt ra xem xét giải quyết;

3. Về quan hệ tài sản: chị Từ Thị Ngọc M không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: chị Từ Thị Ngọc M khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Chí B và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Chí B có nơi đăng ký thường trú tại ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Nguyên đơn chị Từ Thị Ngọc M vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm nhưng chị có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Chí B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Từ Thị Ngọc M và anh Nguyễn Chí B.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Từ Thị Ngọc M và anh Nguyễn Chí B có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 27/02/2017 nên quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh B là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống giữa chị và anh B có phát sinh nhiều mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân. Nay chị M yêu cầu ly hôn với anh B. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xác minh đối với ông Trần Văn Phô. Theo đó, ông Phô xác định giữa chị M và anh B có phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng lúc sống chung thường xuyên cự cải, nay đã sống ly thân với nhau. Từ đó, Hội đồng xét xử, căn cứ vào khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Từ Thị Ngọc M ly hôn anh Nguyễn Chí B.

Về quan hệ con chung: Chị Từ Thị Ngọc M và anh Nguyễn Chí B có 01 người con chung cháu tên Nguyễn Ngọc Bảo N, sinh ngày 21/11/2017. Cháu N hiện sống ổn định với chị Từ Thị Ngọc M, nay chị M yêu cầu nuôi cháu N và không yêu cầu anh B cấp cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo N, sinh ngày 21/11/2017 cho chị M nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị M không yêu cầu cấp dưỡng cho cháu N nên không xem xét, giải quyết.

Về quan hệ tài sản: Chị Từ Thị Ngọc M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Từ Thị Ngọc M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Từ Thị Ngọc M.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Từ Thị Ngọc M được ly hôn anh Nguyễn Chí B.

[2] Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo N, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2017 cho chị Từ Thị Ngọc M nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Nguyễn Chí B không phải cấp dưỡng nuôi cháu N nhưng anh được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

[3] Về tài sản chung: Chị Từ Thị Ngọc M không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Từ Thị Ngọc M phải nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng chị M đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0002775 ngày 13/9/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ