vanban.org

Bản án 79/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 24/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lê Đổ Văn C, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: bị cáo Lê Đổ Văn C 05 (Năm) năm tù, thời gian ở tù tính từ ngày bị bắt (28/4/2018). Phần xử lý tang vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đỗ Văn Chi tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê Đổ Văn C, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Trả lại; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2018/HSST
Ngày: 24/10/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thạch

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thông Thái - Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tuy Phong

2. Bà Nguyễn Hoàng Bích Loan - Phó Chủ tịch Hội nông dân huyện Tuy Phong

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Quốc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong

- Đại diện Viện kiểm sát huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Điền, Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 73/2018/HSST, ngày 30/8/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2018/HSST ngày 12/10/2018, đối với bị cáo:

Lê Đỗ Văn C, sinh năm: 1982. tại: tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: khu phố Hải Tân 3, thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Chạy xe ôm; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt nam; con ông Lê Văn B và bà Đỗ Thị S; vợ: Phạm Thị Thùy T; con: có 02 người (lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2007); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 28.4.2018 và có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Thàm A S, sinh năm 1979. Địa chỉ: thôn Hải Lạc, xã Hải Ninh, huyện B, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau: Lê Đổ Văn C là đối tượng nghiện ma túy, vào ngày 26.04.2018 C đi vào thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận mua 1.100.000đồng Methamphetamine của một người thanh niên tên Bờm (không rõ lai lịch). C đưa ma túy về nhà của C ở khu phố Hải Tân 3, thị trấn P, Tuy Phong, Bình Thuận phân ca thành 21 gói nhỏ cất giấu để sử dụng. Vào sáng ngày 28.4.2018 C đã sử dụng chung 01 gói ma túy đá cùng với Thàm A S tại nhà của C. Đến khoảng 10 giờ 40 phút ngày 28.4.2018, tổ công tác Công an huyện Tuy Phong phối hợp với tổ công tác Công an thị trấn P kiểm tra hành chính nhà của C, lúc này phát hiện C và Thàm A S đang có mặt tại nhà. Qua kiểm tra phát hiện thu giữ trong phòng ngủ của C 20 gói nylon màu trắng (9 gói có kích thước 1x1,5cm, 10 gói có kích thước 2x2cm, 01 gói có kích thước 4x4cm) các gói này được hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng, C khai nhận là ma túy đá (được niêm phong); 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá; 10 ống thủy tinh miệng ống có hình phễu, 02 cây kéo cắt, 08 gói nylon màu trắng kích thước 1x2cm hở 01 đầu bên trong không có gì; 01 dao lam; 01 đoạn ống hút nhựa màu tím trắng dài 7cm được cắt vát 01 đầu; 01 điện thoại di động hiệu samsung màu xám; 200.000 đồng; 01 ống nhựa hình trụ được quấn băng keo bên ngoài; thu giữ của Thàm A S 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng hồng.

Tại bản Kết luận giám định số 365/KLGĐ-PC54 ngày 30.4.2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận:

Mẫu M gửi đến giám định có khối lượng 6,9241 gam là Methamphetamine.

Bản cáo trạng số: 72/QĐ/KSĐT/VKS/HS, ngày 30/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, đã truy tố bị cáo Lê Đổ Văn C , về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và tranh luận vẫn giữ nguyên cáo trạng và đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo C từ 05 năm đến 06 năm tù.

Về phần xử lý tang vật chứng: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên xử:

- Trả lại cho bị cáo C 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xám và số tiền 200.000 đồng

- Trả lại cho Thàm A S điện thoại di động hiệu hiệu Oppo màu trắng hồng.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá; 10 ống thủy tinh miệng ống có hình phễu, 02 cây kéo cắt, 08 gói nylon màu trắng kích thước 1x2cm hở 01 đầu bên trong không có gì; 01 dao lam; 01 đoạn ống hút nhựa màu tím trắng dài 7cm được cắt vát 01 đầu, 01 ống nhựa hình trụ được quấn băng keo bên ngoài; 20 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 3,8066 gam mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 365

Lời nói sau cùng của bị cáo: xin Hội đồng xét xử xem xét, xử cho bị cáo một mức án thấp nhất, để bị cáo sớm trở về với gia đình hòa nhập với xã hội. Bị cáo hứa sẽ không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó có cơ sở khẳng định các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp đúng quy định của pháp luật.

Về chứng cứ và hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Đổ Văn C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo khẳng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra vụ án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả giám định chất ma tuý và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: vào ngày 28.4.2018 C đã cất giữ trong phòng ngủ, tại nhà của C ở tại khu phố Hải Tân 3, thị trấn P, Tuy Phong, Bình Thuận 20 gói nylon màu trắng (9 gói có kích thước 1x1,5cm, 10 gói có kích thước 2x2cm, 01 gói có kích thước 4x4cm) các gói này được hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng là Methamphetamine có khối lượng 6,9241 gam để sử dụng thì bị phát hiện, thu giữ. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ tuyên bố, bị cáo Lê Đổ Văn C, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017). Vì vậy, bản cáo trạng số 72/CT/VKSTP-HS ngày 30/8/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, truy tố bị cáo Nguyễn Quốc Tuấn, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017). như đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và mức hình phạt:

Ma tuý, là loại độc dược là chất gây nghiện mà Nhà nước đã nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép… đây là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, các căn bệnh thế kỷ, làm lây truyền vi rut gây bệnh khó chữa, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, thế nhưng bị cáo đã coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, nên cần phải xử lý bị cáo bằng một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để có đủ thời gian cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội đồng thời để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật hình sự Việt Nam.

Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét cếu cố khi xử lý, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần trong mức hình phạt, để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước Xã hội chủ nghĩa.

Về xử lý tang, vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xám và số tiền 200.000 đồngthu giữ của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu hiệu Oppo màu trắng hồng thu giữ của Thàm A S, không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho Thàm A S.

- Đối với 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá; 10 ống thủy tinh miệng ống có hình phễu, 02 cây kéo cắt, 08 gói nylon màu trắng kích thước 1x2cm hở 01 đầu bên trong không có gì; 01 dao lam; 01 đoạn ống hút nhựa màu tím trắng dài 7cm được cắt vát 01 đầu, 01 ống nhựa hình trụ được quấn băng keo bên ngoài; 20 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 3,8066 gam mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 365, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về đối tượng có liên quan:

- Đối với Thàm A S đã có hành vi sử dụng ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong đã có văn bản và sao trích hồ sơ chuyển về địa phương đề nghị quản lý người nghiện theo quy định pháp luật.

- Đối với người thanh niên tên Bờm ở Phan Thiết đã bán ma túy cho C, hiện không rõ lai lịch, nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của pháp luật.

Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa là có căn cứ, nên chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38 ; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017).

2. Tuyên bố: bị cáo Lê Đổ Văn C, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

3. Xử phạt: bị cáo Lê Đổ Văn C 05 (Năm) năm tù, thời gian ở tù tính từ ngày bị bắt (28/4/2018).

4. Phần xử lý tang vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

- Trả lại cho bị cáo C 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xám và số tiền 200.000 đồng (số tiền tạm giữ tại phiếu thu tiền số 0002181 ngày 23/8/2018 của C cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong).

- Trả lại cho Thàm A S điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng hồng.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá; 10 ống thủy tinh miệng ống có hình phễu, 02 cây kéo cắt, 08 gói nylon màu trắng kích thước 1x2cm hở 01 đầu bên trong không có gì; 01 dao lam; 01 đoạn ống hút nhựa màu tím trắng dài 7cm được cắt vát 01 đầu, 01 ống nhựa hình trụ được quấn băng keo bên ngoài; 20 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 3,8066 gam mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 365

(Vật chứng được tạm giữ tại C cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2018 giữa Công an huyện Tuy Phong và C cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong).

5.Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6.Về quyền kháng cáo: án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ