- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thành Quan - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Thành Q (Đ) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THÀNH TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 79/2018/HS-ST Ngày 11 - 5 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đình Phước.
2. Bà Phạm Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Võ Thành Q, tên gọi khác: Được; sinh năm 1985 tại Bà Rịa-Vũng Tàu; trú tại: Tổ 7, ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; chỗ ở: Ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Thành N và bà Danh Thị T; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Mỹ D và 04 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2015.
Bị bắt tạm giam ngày 04/8/2017 (có mặt).
- Bị hại: Ông Lê Văn T, sinh năm 1977; trú tại: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Đức H, sinh năm 1957; trú tại: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Thành Q và ông Lê Văn T quen biết nhau từ đầu năm 2016. Cuối năm 2016, ông T có thiếu Quan 500.000 đồng tiền sửa xe và 1.000.000 đồng tiền vay, tổng cộng là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn). Q nhiều lần yêu cầu ông T trả nợ nhưng ông T không có tiền trả.
Khoảng 12 giờ ngày 20/5/2017, Q cùng Nguyễn Ngọc Hà và đối tượng Long (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà ông T ở thôn Chu Hải, xã Tân Hải, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu để đòi tiền. Ông T nói chưa có tiền, hẹn tuần sau sẽ trả. Q không đồng ý đi ra bắt 02 con gà đá của ông T đưa cho Hà giữ. Q nói với ông T khi nào có tiền trả, Q sẽ trả lại gà. Ông T đi ra đòi gà lại thì hai bên xảy ra mâu thuẫn cãi vã. Ông T lấy một cây xà beng bằng sắt rỗng đánh vào đầu Q nhưng không gây thương tích vì Q đội mũ bảo hiểm. Hà thấy vậy đã bỏ hai con gà đá xuống chạy tới can ngăn. Lúc này, ông Lê Đức H là anh trai ông T đang có mặt gần đó đã lấy cây lùa nước bằng gỗ hình chữ T đập vào người Hà làm gãy ba xương sườn số 10, 11, 12. Nhóm Q thấy vậy sợ hãi bỏ chạy, Long đi về một mình còn Q chở Hà đến phòng khám kiểm tra rồi về nhà Q ở thành phố Bà Rịa nghỉ ngơi. Q nghĩ đến việc Hà bị đánh gãy 03 xương sườn đã rất tức giận. Q đi ra phía sau nhà lấy 02 con dao chặt củi dấu trong áo khoác rồi vào nhà rủ Hà đi cùng mình. Hà không biết Q dấu 02 con dao trong áo, tưởng Q rủ đi công việc nên đã đồng ý đi cùng Q.
Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Q chở Hà quay lại nhà ông T. Khi đến cổng, Q đưa cho Hà 01 con dao rồi chạy nhanh vào nhà ông T khiến Hà không kịp phản ứng gì. Lúc này, ông T đang nằm trên võng, Q xông đến dùng dao chém ông T 04 nhát làm ông T bị thương ở tay trái, vai trái và lưng hông trái. Q chém ông T xong bỏ chạy ra ngoài thì gặp ông H từ trong nhà cạnh đó chạy ra đã vung dao chém ông H. Ông H bỏ chạy bị Q chém trúng 01 nhát vào lưng. Sau đó, Q bỏ chạy ra cổng cùng Hà rời khỏi nhà ông T. Ông T và ông H được đưa đi bệnh viện cấp cứu.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 214/TgT ngày 19/7/2017 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đối với anh Lê Văn T như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- 01 vết thương phần mềm vùng vai trái, lành tốt.
- 01 vết thương vùng lưng hông trái, tràn khí tràn máu màng phổi trái, đã được điều trị phẫu thuật 02 lần: Lần 1 dẫn lưu màng phổi, mổ thám sát ổ bụng, lần 2 nội soi lấy máu đông màng phổi. Hiện tại bệnh nhân bị dày đính màng phổi trái dưới 1/4 diện tích hai phế trường.
- 01 vết thương cánh tay trái, đứt gân cơ tam đầu, một phần cơ cánh tay, đứt thần kinh quay, mẻ xương cánh tay, đã được phẫu thuật cắt lọc, khâu nối gân cơ, khâu nối thần kinh. Hiện tại bệnh nhân có biểu hiện tổn thương hoàn toàn thần kinh quay từ vị trí vết thương ban đầu.
2. Về vật gây thương tích, chiều hướng tác động, cơ chế gây thương tích:
- Thương tích 1: Phù hợp với tổn thương cơ bản là vết “chém, băm bổ”, được gây ra do sự tác động của vật cứng có cạnh sắc, tác động vào vị trí vết thương theo chiều hướng từ sau ra trước.
- Thương tích 2: Phù hợp với tổn thương cơ bản là vết “chém, băm bổ”, được gây ra do sự tác động của vật cứng có cạnh sắc, tác động vào vị trí vết thương theo chiều hướng từ sau ra trước, từ trái sang phải.
- Thương tích 3: Phù hợp với tổn thương cơ bản là vết “chém, băm bổ”, được gây ra do sự tác động của vật cứng có cạnh sắc, tác động vào vị trí vết thương theo chiều hướng từ trái sang phải, tầm ngang.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại là 60%.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 203/TgT ngày 07/7/2017 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đối với ông Lê Đức H như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định: 01 vết thương phần mềm vùng thắt lưng lành tốt.
2. Về vật gây thương tích, chiều hướng tác động, cơ chế gây thương tích:
Thương tích trên phù hợp với tổn thương cơ bản là vết “chém, băm bổ”, được gây ra do sự tác động của vật cứng có cạnh sắc, tác động vào vị trí vết thương theo chiều hướng từ sau ra trước.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại là 08%.
Đối với Nguyễn Ngọc Hà: Ngày 21/12/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành ra Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Tân Thành để điều tra làm rõ hành vi “Cố ý gây thương tích” của Hà. Quá trình điều tra không đủ cơ sở để khởi tố Hà vì Hà không biết việc đi cùng Q là đi đánh trả thù ông T và không biết Q đã dấu 02 con dao trong áo khoác. Khi đến cổng nhà ông T, Q đưa cho Hà 01 con dao rồi chạy vào nhà chém ông T, sự việc xảy ra quá nhanh nên Hà không kịp phản ứng gì.
Đối với thương tích do bị gãy 03 xương sườn của Hà: Hà từ chối giám định và không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Về vật chứng của vụ án: Sau khi gây án, Q đã vứt bỏ con dao trên đường, quá trình điều tra không thu hồi được.
Về bồi thường thiệt hại: Gia đình bị cáo Q đã bồi thường cho ông T 50.000.000 đồng (năm mươi triệu). Ông T nhận tiền và không yêu cầu gì thêm. Ông T không có yêu cầu gì về phần bồi thường thiệt hại.
Ngày 23/9/2017, ông Lê Đức H có đơn rút yêu cầu khởi tố đối với Võ Thành Q. Do thương tích Q gây ra cho ông H dưới 11% và ông H rút đơn là hoàn toàn tự nguyện nên không điều tra, xử lý đối với Q về hành vi đã gây cho ông H.
Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKS ngày 23/3/2018; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Q từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.
Về bồi thường thiệt hại: Đã giải quyết xong không đề cập đến.
Bị cáo Q không có ý kiến gì về luận tội của kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng xin được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về tố tụng:
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi cũng như quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Về tội danh và điều luật áp dụng:
Lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo Q phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận: Ông T là người thiếu nợ Q, nhiều lần hứa nhưng không trả. Ngày 20/5/2017, Q cùng Hà và Long đến nhà ông T đòi nợ thì xảy ra mâu thuẫn. Q bị ông T lấy cây xà beng bằng sắt đánh còn Hà bị ông H lấy cây lùa nước bằng gỗ đánh gãy xương sườn. Q bức xúc việc Hà bị đánh đau đã về nhà lấy dao chặt củi quay lại chém ông T 04 nhát gây thương tích ở tay trái, vai trái và lưng hông trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 60%; chém ông H 01 nhát gây thương tích ở lưng với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 08%.
Hành vi dùng hung khí nguy hiểm của bị cáo Q đã gây ra cho ông T thương tích 60%, đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
Đối với thương tích 8% của ông H, do ông H rút yêu cầu khởi tố nên không xử lý đối với Q về hành vi này.
3. Hành vi phạm tội của bị cáo Q rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến sức khỏe của ông T, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
4. Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại tòa, bị cáo Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, vụ án xảy ra có một phần lỗi của bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 cần áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Xét thấy bị cáo Q có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; là lao động chính trong gia đình phải nuôi 04 con nhỏ, có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 nên áp dụng thêm Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999 để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung đối với bị cáo là phù hợp.
5. Về bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
6. Về án phí: Bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Võ Thành Q (Đ) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Võ Thành Q (Đ) 04 (bốn) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/8/2017.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Võ Thành Q (Đ) phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh BR-VT;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh BR-VT;
- VKSND huyện Tân Thành;
- Công an huyện Tân Thành;
- Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
- Phòng PV27 công an tỉnh BR-VT;
(đã ký)
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Ly THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh BR-VT;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh BR-VT;
- VKSND huyện Tân Thành;
- Công an huyện Tân Thành;
- Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
- Phòng PV27 công an tỉnh BR-VT;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Ly THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Tân Thành; - Công an huyện Tân Thành; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - Phòng PV27 công an tỉnh BR-VT; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ly THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |