vanban.org

Bản án 79/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 20/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Thành Q phạm tội “Vi"phạm"quy"định"về"điều"khiển" phương"tiện"giao"thông"đường"bộ”."

hình sự đối với bị cáo; Xử phạt: Phạm Thành Q 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi"phạm"quy"định"về"điều" khiển"phương"tiện"giao"thông"đường"bộ”; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm điều khiển giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thành Q phạm tội “Vi"phạm"quy"định"về"điều"khiển" phương"tiện"giao"thông"đường"bộ”."
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN D
TỈNH KHÁNH HÒA
Bản án số: 79/2017/HSST
Ngày 20-12-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D - TỈNH KHÁNH HÒA

Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:"

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Lý Thị Kim Liên

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"""

Bà Trần Thị Hoa;

Bà Huỳnh Thị Oanh;

-"Thư"ký"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thái Bảo Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hòa

-" Đại" diện" Viện" kiểm" sát" nhân" dân" huyện" D," tỉnh" Khánh" Hòa" tham" gia" phiên"tòa: Ông Phạm Thành Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2017 tại Tòa án nhân dân huyện D xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 101/2017/HSST ngày 23 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Phạm Thành Q, sinh năm 1977 tại D, Khánh Hòa; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: thôn P, xã D, huyện D, Khánh Hòa; Nghề nghiệp: thợ hồ; Trình độ văn hóa: 04/12; Cha Phạm Thành T (sinh năm 1952), mẹ Nguyễn Thị L (chết); Vợ Nguyễn Thị Thanh H (sinh năm 1978), có 03 con (lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2008); Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1962 (chết ngày 26/6/2017).

- Đại diện hợp pháp của người bị hại:

1. Bà Hà Thị K, sinh năm 1963;

2. Ạnh Nguyễn V, sinh năm 1989;

3. Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1992;

4. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1994;

Cùng địa chỉ: tổ dân phố 2, thị trấn D, huyện D, Khánh Hòa. Đều có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty TNHH Vận tải và Thương mại A; Địa chỉ: 227 T, phường 8, thành phố H, Phú Yên; Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Quốc T - Giám đốc. Vắng mặt.

2. Ông Đặng Văn C, sinh năm 1963; Địa chỉ: số nhà 92/10 đường L, Phường 8, thành phố H, Phú Yên. Văng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo"các"tài"liệu"có"trong"hồ"sơ"vụ"án"và"diễn"biến"tại"phiên"tòa"nội"dung"vụ"

án"được"tóm"tắt"như"sau:

Khoảng 17 giờ ngày 26/6/2017, Phạm Thành Q (có giấy phép lái xe mô tô hạng A1) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79F7-0068 chở ông Nguyễn Văn N ngồi sau lưu thông trên đường Quốc lộ 1A từ xã C, huyện L về thị trấn D. Khi đến khu vực ngã ba giao nhau giữa tuyến tránh đường QL1A và đường QL1A, Q điều khiển xe mô tô rẽ trái đi vào đường QL1A. Khi đến Km 1466+150 đường QL1A (thuộc thôn C, xã S) do không chú ý quan sát và không làm chủ tay lái nên Q điều khiển xe mô tô tự ngã xuống mặt đường làm ông N văng sang phần đường bên trái va chạm vào phần khung bảo vệ thân xe bên trái của xe ô tô 78C-009.94 do ông Đặng Văn C điều khiển đang lưu hành đúng phần đường theo chiều ngược lại và bị bánh sau xe ô tô cán qua người gây tai nạn. Hậu quả ông Nguyễn Văn N tử vong tại Bênh viện. Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D, Phạm Thành Q đã khai nhận hành vi phạm tội.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 266/TT-TTPY ngày 03/7/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Nguyễn Văn N là do đa chấn thương.

Bản Cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D truy tố bị cáo Phạm Thành Q về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự xử phạt Phạm Thành Q từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thành Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện D truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định vào lúc 17 giờ ngày 26/6/2017, bị cáo Phạm Thành Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79F7-0068 chở ông Nguyễn Văn N không quan sát xe ngược chiều khi chuyển hướng rẽ trái, không làm chủ được tay lái nên té ngã làm ông N văng sang phần đường bên trái va chạm vào thân xe ô tô 78C-009.94 đang lưu hành đúng phần đường theo chiều ngược lại làm ông N bị bánh sau ô tô cán qua người và tử vong tại bênh viện do đa chấn thương. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện D truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nói trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự giao thông đường bộ. Bị cáo điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đã vi phạm Điều 9, khoản 2 Điều 15 của Luật giao thông đường bộ hậu quả gây tai nạn làm một người chết, bị cáo có lỗi hoàn toàn. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã thăm hỏi, bồi thường cho người bị hại để khắc phục hậu quả do bị cáo gây ra, đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của người bị hại bà Hà Thị K, anh Nguyễn V, chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Văn H đã nhận số tiền 2.000.000 do bị cáo bồi thường và 50.000.000đ do Công ty TNHH Vận tải và Thương mại A và ông Đặng Văn C hỗ trợ. Tại phiên tòa không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về vật chứng vụ án: Xe mô tô 79F7-0068 thuộc sở hữu của bị cáo Phạm Thành Q nên cần trả lại cho bị cáo.

[5] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. """"""""" Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố bị cáo Phạm Thành Q phạm tội “Vi"phạm"quy"định"về"điều"khiển" phương"tiện"giao"thông"đường"bộ”."

Căn cứ khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật

hình sự đối với bị cáo;

Xử phạt: Phạm Thành Q 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi"phạm"quy"định"về"điều" khiển"phương"tiện"giao"thông"đường"bộ”; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự; Trả lại cho bị cáo Phạm Thành Q xe mô tô 79F7-0068 nhãn hiệu DAYANG, số máy 1202745, số khung1202745; màu sơn đen đã qua sử dụng, bị hư hỏng (theo"biên" bản"giao"nhận"vật"chứng"giữa"Công"an"huyện"D"và"Chi"cục"thi"hành"án"dân"sự" ngày"22/11/2017)."

4. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội; Bị cáo Phạm Thành Q phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai"trăm"nghìn"đồng)."

Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ