- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Xuân T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, b…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 785/2026/HS-ST Ngày: 29-5-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂNKHU VỰC 2 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Thủ
2. Bà Trần Hoài Thảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2- Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đai diện Viên kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Phan Thị H – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 -Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 600/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 776/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ tên: Huỳnh Xuân T; Tên gọi khác: Tí Em; Sinh ngày: 28/02/1992; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: số B D, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: số B D, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Huỳnh Văn X, sinh năm 1961 và con bà Chung Thế P, sinh năm 1966; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/6/2025 và có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: anh Võ Minh T1 (đã chết trong tai nạn)
Đại diện hợp pháp của người bị hại:
Bà Nguyễn Thị Thái H1 (mẹ đẻ bị hại)
Địa chỉ: 2 đường M, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H1: Ông Võ Minh T2
Địa chỉ: 7 T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh
Văn bản ủy quyền ngày 03/6/2024. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
Ông Ông Phước H2. Vắng mặt
Địa chỉ: A Hồ B, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh
Ông Từ Trường A. Vắng mặt
Địa chỉ: E đường A, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phan Ngọc T3 – Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH Trúc Phan thuộc đoàn luật sư Thành phố H.
Địa chỉ: 4 đường số H, khu phố C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 23/3/2024, Huỳnh Xuân T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 59L3-536.46 chở theo anh Võ Minh T1 (sinh năm 1984) lưu thông trên đường H theo hướng từ Đường 400 về đường X (nay là đường V). Khi đến gần trụ điện X/HHN-T118L đường H, do tập trung nói chuyện với anh T1 ngồi phía sau nên T đã thiếu quan sát và đâm vào dãy phân cách bằng bê tông được đặt ở giữa đường. Hậu quả là T và T1 bị thương được đưa đi bệnh viện L cấp cứu. Sau đó, T1 được chuyển sang bệnh viện Đ tiếp tục điều trị, đến ngày 30/3/2024 thì T1 tử vong.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Huỳnh Xuân T khai nhận toàn bộ nội dung sự việc như trên.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Vị trí nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, bằng phẳng, mặt đường rải nhựa bê tông. Trên mặt đường có vạch sơn màu vàng không liên tục phân chia đường thành hai phần đường, áp dụng lưu thông hai chiều. Phần đường bên phải có bề rộng 5m. Ngoài ra, đoạn gần cổng ra vào bến xe M mới có lắp đặt giải phân cách bằng bê tông theo hướng từ Đường 400 về hướng đường Xa lộ H và được áp dụng lưu thông hai chiều dành cho xe mô tô. Phần đường bên phải hướng từ đầu dãy phân cách đến đường X có bề rộng 3,3m và phần đường ngược lại rộng 1m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển số 59L3 – 536.46:
Xe có trang bị đầy đủ các bộ phận an toàn kĩ thuật, phanh tay, phanh chân, hệ thống đèn hoạt động bình thường.
Tại bản Kết luận giám định tử thi số 4228 -24/KL - KTHS ngày 08/5/2024 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế Thành phố H kết luận nguyên nhân chết của Võ Minh T1 là chấn thương sọ não. Trong máu và chất chứa dạ dày có sự hiện diện của A1 (paracetamol) (thuốc giảm đau, hạ sốt), M (thuốc an thần nhóm benzodiazepines), P1 (thuốc chống động kinh). (BL:41 - 43).
Kết quả xác minh phương tiện:
- Xe mô tô biển số 59L3 – 536.46, nhãn hiệu HONDA, số loại Vario, số máy KF41E1851682, số khung MH1KF4111KK849187 do Huỳnh Xuân T, địa chỉ B D, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh là chủ sở hữu.
Xác minh Giấy phép lái xe hạng A1 của bị cáo Huỳnh Xuân T, kết quả giấy phép lái xe hợp lệ.
Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn và ma túy:
Tại thời điểm xảy ra tai nạn, bị cáo Huỳnh Xuân T có nồng độ cồn là 195.2 mg/lít khí thở.
Kết luận giám định dấu vết va chạm của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh:
Kết luận về đối tượng giám định:
1. Cơ chế hình thành dấu vết trên xe mô tô biển số 59L3-536.46:
- Dấu vết trượt xước, biến dạng, gãy vỡ các chi tiết phía trước bên trái xe mô tô biển số 59L3-536.46 (vành và lốp bánh trước, đầu trục bánh trước, giảm xóc trước, sàn để chân) có chiều từ trước về sau, dấu vết trên bánh xe có chiều từ mặt lăn vào tâm phù hợp va chạm với dãy phân cách bê tông trên đường H.
- Bên trái bánh trước xe mô tô biển số 59L3-536.46 và đầu dãy phân cách bê tông trên đường H là vị trí va chạm đầu tiên khi xảy ra tai nạn giao thông, vị trí này chiếu xuống mặt đường ngay tại vị trí ký hiệu số 1 trong Sơ đồ hiện trường.
- Dấu vết trượt xước các chi tiết bên trái xe mô tô biển số 59L3-536.46 (cung trước chắn bùn bánh trước, mặt nạ, cánh yếm, đầu tay lái, đầu tay phanh, ốp nhựa đầu xe, gương chiếu hậu, để chân sau, ốp lọc gió, tay nâng sau yên) có chiều từ trái sang phải phù hợp va chạm với mặt đường.
2. Khi xảy ra tai nạn giao thông xe mô tô biển số 59L3-536.46 chuyển động trên đường H theo hướng từ Đường 400 đi đường X Hà Nội.
3. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 59L3-536.46 với phương tiện hay vật cản khác.
Kết luận giám định vận tốc của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô biển số 59L3 - 536.46 tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông.
Vật chứng thu giữ:
- Xe mô tô biển số 59L3 – 536.46, nhãn hiệu HONDA, số loại Vario, số máy KF41E1851682, số khung MH1KF4111KK849187 do Huỳnh Xuân T đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại phương tiện cho chủ sở hữu hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật (BL 107)
Về trách nhiệm dân sự:
Sau tai nạn, bị cáo Huỳnh Xuân T đã bồi thường cho gia đình anh Võ Minh T1 số tiền 40.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Thái H1 là mẹ nạn nhân đã nhận đủ số tiền trên, đồng thời xin bãi nại cho T (BL 74 – 75).
Cáo trạng số 510/CT-VKSKV2 ngày 05/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2- Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Huỳnh Xuân T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260 tuyên bố bị cáo Huỳnh Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại, giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, cha bị cáo là người có công với đất nước được tặng thưởng nhiều huân chương quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025; xử phạt bị cáo Huỳnh Xuân T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T (nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H) đã xử lý xong; bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Luật sư Phan Ngọc T3 trình bày: Bị cáo T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, do đó thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố và luận tội đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cha của bị cáo - ông Huỳnh Văn X là người có công với đất nước được tặng thưởng nhiều huân chương kháng chiến, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tôi lần đầu với lỗi vô ý. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo được sớm trở về với gia đình, làm lại cuộc đời.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ ăn năn, hối cải và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T (nay là Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H), của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh) trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tư cách đương sự: Qua xác minh, xác định cha của bị hại là ông Võ Văn T4, sinh năm 1956, số hộ khẩu thường trú tại số G đường T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện ông T4 đã bán nhà và bỏ đi khỏi địa phương, hiện không rõ ở đâu. Ông Võ Minh T1 có vợ là bà Tô Thúy H3 hiện đã ly hôn theo Quyết định số 733/2019/QĐST -HNGĐ ngày 30/9/2019, con bị hại chưa thành niên nên Tòa án triệu tập mẹ ruột của bị hại là bà Nguyễn Thị Thái H1 tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp của bị hại.
Lời khai nhận tội của bị cáo Huỳnh Xuân T tại phiên tòa phù hợp với nội dung: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông; Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; Bản kết luận giám định tử thi số 4228 -24/KL – KTHS ngày 08/5/2024 của Phòng K Công an Thành phố H; Kết luận giám định số 5447/KL-KTHS ngày 27/9/2024 của P2 Bộ C; phù hợp với lời khai của đại diện người bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đã đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 22 giờ 40 phút, ngày 23/3/2024, Huỳnh Xuân T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 59L3-536.46 chở theo sau anh Võ Minh T1 (sinh năm 1984) lưu thông trên đường H theo hướng từ đường 400 về đường Xa lộ H (nay là đường V). Khi đến gần trụ điện X/HHN-T118L đường H, do tập trung nói chuyện với T1 ngồi phía sau nên T đã thiếu quan sát và đâm vào dãy phân cách bằng bê tông được đặt ở giữa đường. Hậu quả là T và T1 bị thương được đưa đi bệnh viện L cấp cứu. Sau đó, T1 được chuyển sang bệnh viện Đ để tiếp tục điều trị, đến ngày 30/3/2024 thì T1 tử vong. Hành vi nêu trên của bị cáo Huỳnh Xuân T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.
Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và Điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Huỳnh Xuân T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất của vụ án: Bị cáo Huỳnh Xuân T có Giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô 02 bánh, dung tích xi lanh 149cm3 là đúng quy định nhưng đã thiếu quan sát do tập trung nói chuyện với bị hại nên đã đâm vào giải phân cách bằng bê tông được đặt giữa đường. Bị cáo điều khiển xe mà trong hơi thở có nồng độ cồn (195.2mg/lít khí thở) mức độ cồn rất cao. Mức này cho thấy tình trạng say rượu nặng, gây mất phương hướng, phản xạ chậm và nguy hiểm đến tính mạng là vi phạm khoản 8 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008, Văn bản hợp nhất Luật giao thông đường bộ số 15/VBHN-VPQH ngày 05/7/2019 của Văn phòng Q. Bị cáo biết rõ những nguy hiểm có thể xảy ra khi không tuân thủ nghiêm các quy định của Luật giao thông đường bộ. Nhưng vì chủ quan, ý thức tôn trọng tính mạng, sức khỏe và tài sản của người tham gia giao thông khác kém nên bị cáo đã gây ra tai nạn. Hành vi không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về an toàn giao thông đường bộ dẫn đến tai nạn làm chết một người do bị cáo Huỳnh Xuân T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hệ thống các quy định về đảm bảo an toàn giao thông đường bộ và an toàn tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo T hoàn toàn có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi vô ý vì cẩu thả. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, cũng xét: Sau tai nạn, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 40.000.000 đồng, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cam kết không yêu cầu bồi thường hay khiếu nại gì về sau; bản thân bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu, gia đình bị cáo có công với cách mạng được tặng thưởng nhiều huân huy chương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh và luật sư bào chữa cho bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
Như đã nhận định ở phần [4], gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 40.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại. Người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. (BL 74 -75, 92 -95)
Xử lý vật chứng:
- Xe mô tô Honda Vario 150, màu đỏ đen, biển số 59L3 - 536.46, số máy KF41E11851682, số khung MH1KF4111KK849187 do Huỳnh Xuân T đứng tên chủ đăng ký xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại xe cho ông Huỳnh Văn X (đại diện T) nhận xe là có căn cứ (bút lục 107 - 108).
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Xuân T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2025.
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Huỳnh Xuân T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
4. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án. Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - VKSND KV2 - TP. HCM; - Cơ quan CSĐT - Công an TP. HCM; - Trại tạm giam Bố Lá – Phân trại tạm giam Cát Lái; - THADS TP. HCM; - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Nhung |