- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 785/2022/HNGĐ-ST Ngày: 04/7/2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Tốt;
2. Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 201/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 35 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 397/2022/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Lệ H, sinh năm 1984 - có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: 17/4, ấp R, thị trấn H, huyện T, tỉnh G.
2. Bị đơn: Ông Trương Quang Hi, sinh năm: 1971 - vắng mặt.
Địa chỉ: 47/1, tổ 15, khu phố 1, phường L, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn, bản tự khai, các biên bản hòa giải, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn bà Trần Lệ H trình bày:
Bà Trần Lệ H và ông Trương Quang Hi chung sống từ năm 2014. Có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 15/KH quyển 01/2014 cấp ngày 12/02/2004.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc. Nhưng đến năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên gây gỗ cải vã khiến không khí gia đình rất nặng nề căng thẳng. Nguyên nhân do không còn tiếng nói chung. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, ông Hi thường xuyên la mắng, xúc phạm, thậm chí có lần đánh bà H. Dù đã nhiều lần hàn gắn nhưng vẫn không cải thiện nên từ tháng 06/2020 bà H đã về nhà bố mẹ tại tỉnh G sống ly thân cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chông không còn, không thể tiếp tục chung sống và hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn.
Về con chung: Có con chung Trương Phúc H1, sinh năm 23/7/2014.
Con chung hiện nay đang sống cùng bà H. Nếu được ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con, không cần ông Hi cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Không có.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn là ông Trương Quang Hi nhưng ông Hi đều vắng mặt tại Tòa không rõ lý do và Tòa án cũng không nhận được bất kỳ văn bản trình bày ý kiến của ông Hi đối với các yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu ý kiến:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng: đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung: Vì lợi ích mọi mặt của trẻ đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao con chung Trương Phúc Hưng cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của ông Trương Quang Hi do bà Trần Lệ H chưa có yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Trần Lệ H xác định không có nên Tòa án không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn đang cư trú tại Quận 12 nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Trần Lệ H có đơn xin xét xử vắng mặt. Sau khi thụ lý, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là ông Trương Quang Hi nhưng ông Hi đều vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về nội dung tranh chấp:
. Về hôn nhân:
Bà Trần Lệ H và ông Trương Quang Hi kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 15/KH quyển 01/2014 cấp ngày 12/02/2004, nên là hôn nhân hợp pháp.
Thời gian chung sống thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn nên bà H có đơn xin ly hôn. Tại bản tự khai và các biên bản hòa giải bà H đều xác định không thể nào tiếp tục cuộc sống hôn nhân, chỉ có mẫu thuẫn kéo dài. Kết quả xác minh về quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông Hi tại Hội Liên Hiệp Phụ nữ phường L, Quận 12 thể hiện: “Mâu thuẫn gia đình bà H và ông Hi không trình báo với chính quyền địa phương nên Hội Liên Hiệp Phụ nữ phường không nắm rõ”.
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông Hi đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.
. Về con chung: Có con chung Trương Phúc H1, sinh năm 23/7/2014.
Bà H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dạy con Trương Phúc H1 từ sau khi ly hôn cho đến khi con trưởng thành, không yêu cầu cấp dưỡng.
Ngày 08/3/2022 tại bản tự khai trẻ H1 có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định nơi ăn ở, tinh thần, sức khỏe cần giao trẻ cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của ông Trương Quang Hi do bà Trần Lệ H chưa có yêu cầu.
. Về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Trần Lệ H xác định không có nên Tòa án không giải quyết.
. Về án phí: Bà Trần Lệ H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình.
. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51; Điều 53; Điều 54; Điều 56; Điều 57; Điều 58 và khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1.1. Về hôn nhân: Bà Trần Lệ H được ly hôn với ông Trương Quang Hi.
Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật, giấy chứng nhận kết hôn số 15/KH quyển 01/2014 do Ủy ban nhân dân phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/02/2004 không còn giá trị pháp luật.
1.2. Về con chung: Bà Trần Lệ H và ông Trương Quang Hi có 01 con chung là Trương Phúc H1, sinh năm 23/7/2014.
Giao con chung Trương Phúc H1 cho bà Trần Lệ H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của ông Trương Quang Hi do bà Trần Lệ H chưa có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng cho con.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Trần Lệ H xác định không có nên Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí: Bà Trần Lệ H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0022811 ngày 25 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Lệ H đã nộp đủ án phí.
3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, bổ sung năm 2014.
4. Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -VKSND Q.12; -CCTHADS Q.12; -UBND nơi cấp GCN kết hôn; -Các đương sự; -Lưu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Minh Hà |