- Tranh chấp gì? "Trần Quang T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Quang T 16 (Mười sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| Tßa ¸n nh©n d©n HuyÖn §an Ph îng thµnh phè Hµ néi | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 78/2022/HS -ST Ngµy 24 - 8 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Nhật.
Bà Nguyễn Thị Sen.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2022/TLST - HS ngày 03 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2022/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 8 năm 2022 đối với:
Bị cáo: Trần Quang T, sinh năm 2003 tại xã T, huyện Đan Phượng; Nơi ĐKNKTT: Cụm 8, xã T, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: Chưa; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 23/6/2021 bị Công an huyện Đan Phượng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 350.000 đồng về hành vi đánh nhau (chưa nộp phạt); theo danh chỉ bản số 202 lập ngày 10/6/2022 của Công an huyện Đan Phượng; tạm giữ, tạm giam ngày 01/6/2022; có mặt.
- Người làm chứng: Ông Tạ Văn C, sinh năm 1956; nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 31/5/2022, Trần Quang T, sinh năm 2003 ở Cụm 8, xã T, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội thuê xe taxi từ nhà đến khu công nghiệp Sông Cùng thuộc thôn Thọ Vực, xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội để mua 02 túi ma túy Ketamin của một người đàn ông tên L (chưa rõ nhân thân cụ thể) với giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy, T cầm số ma túy trên trong lòng bàn tay trái ngồi nghỉ ngay gần nơi mua ma túy thì bị lực lượng công an xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng bắt quả tang, vật chứng thu giữ là 02 (hai) túi ni lông trong suốt bên trong chứa tinh thể màu trắng.
Tại Kết luận giám định số 3699/KL - KTHS ngày 09/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilong là ma túy loại Ketamin, tổng khối lượng: 1,682 gam.
Bản cáo trạng số 75/CT- VKS - ĐP ngày 02/8/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Quang T đã khai nhận hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Trần Quang T đủ yếu tố cấu thành tội phạm như bản cáo trạng đã nêu, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quang T từ 18 tháng đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Vụ án xảy ra trên địa bàn xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng, nên việc khởi tố, truy tố và xét xử được các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành, nội dung các quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
. Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để khẳng định: Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên khoảng 23 giờ 30 phút ngày 31/5/2022, Trần Quang T đi ta xi đến khu công nghiệp Sông Cùng thuộc thôn Thọ Vực, xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội để mua 02 túi ma túy Ketamin với giá 2.000.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. Sau khi mua được ma túy, T cầm ma túy trong lòng bàn tay trái, ngồi nghỉ ngay gần nơi mua ma túy thì bị Công an xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng bắt quả tang, thu giữ 02 (hai) túi ni lông trong suốt bên trong chứa tinh thể màu trắng. Kết quả giám định tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilong là ma túy loại Ketamin, tổng khối lượng là 1,682 gam. Hành vi cất giữ bất hợp pháp chất ma túy loại Ketamin của Trần Quang T có khối lượng nêu trên đã phạm vào tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Vì vậy, cáo trạng
- 2 -
của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo theo tội danh và viện dẫn điều luật là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện, gây mất trật tự an toàn xã hội; làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi đánh nhau, nên cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm cho bị cáo một phần về hình phạt.
Quá trình điều tra, Trần Quang T khai nguồn gốc số ma túy trên do mua của một người đàn ông tên Linh (không rõ địa chỉ). Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không làm rõ được, ngoài lời khai của T không có tài liệu nào khác nên không làm rõ được để xử lý.
. Về áp dụng hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, tài sản không có, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Đan Phượng 01 (một) bao gói sau giám định của Phòng PC 09 - CAHN ( bên trong chứa ma túy Ketamin sau giám định) được niêm phong theo quy định của pháp luật, còn nguyên niêm phong, xét đây là vật chứng của vụ án nên tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 249 ; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Quang T 16 (Mười sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 01/6/2022.
2. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao gói sau giám định của Phòng PC 09 - Công an Hà Nội (bên trong chứa ma túy Ketamin sau giám định) được niêm phong theo quy định của pháp luật, còn nguyên niêm phong.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/8/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Đan Phượng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng)
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Quang T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- 3 -
4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
N¬i nhËn:
TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
- TAND thµnh phè Hµ Néi;
ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa
- VKSND huyÖn §an Ph îng;
- C«ng an huyÖn §an Ph îng;
- THADS huyÖn §an Ph îng;
- BÞ c¸o;
- L u hå s¬.
TrÇn Duy H ng
- 4 -
N¬i nhËn:
| - TAND thµnh phè Hµ Néi; - VKSND huyÖn §an Ph îng; - UBKT huyện ủy Đan Phượng; - C«ng an huyÖn §an Ph îng; - THADS huyÖn §an Ph îng; - Các bÞ c¸o; - L u hå s¬. - 5 - - 6 - | TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa TrÇn Duy H ng |