vanban.org

Bản án 78/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 18/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025:

Tuyên bố bị cáo Cầm Văn N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Cầm Văn N 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2025 (Ngày bắt tạm giữ bị cáo). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cầm Văn N - Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2026/HS-ST
Ngày 18-5-2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Minh Xuân và ông Hà Chí Thanh.

- Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Văn Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4

- Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2026/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2026/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2026/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Cầm Văn N, sinh ngày 22/7/1990, tại xã P, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký HKTT: Bản

Củ,

xã

P,

tỉnh

Sơn

La;

nơi

tạm

trú:

Bản P1, xã P, tỉnh Sơn La; Số CCCD 014090017xxx; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cầm Văn L, sinh năm 1970 và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1969; bị cáo có vợ là Vì Thị H, sinh năm 1997 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, Tiền Sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2025 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 15/12/2025, Bị cáo Cầm Văn N đi bộ từ nhà tại bản P1, xã P, tỉnh Sơn La đến khu vực bản H, xã P, tỉnh Sơn La tìm mua ma tuý về sử dụng. Đến nơi bị cáo gặp 01 người đàn ông dân tộc Mông (không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ) đang ngồi ven đường, qua trao đổi người đó đồng ý bán cho bị cáo 06 viên Hồng phiến với số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Sau đó bị cáo cầm gói ma tuý đi tìm nơi sử dụng, đi được một đoạn bị cáo vào bụi cây ven đường lấy 01 viên hồng phiến ra sử dụng bằng cách đốt giấy bạc hít qua đường hô hấp vào cơ thể, sau đó gói 05 viên hồng phiến còn lại như ban đầu rồi cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc và đi bộ về nhà. Khi đang đi trên đường thì bị tổ công tác Công an xã P phối hợp với Công an xã Sông Mã và Phòng PC04 Công an tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Ngày 16/12/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Cầm Văn N tại bản P1, xã P, tỉnh Sơn La, kết quả: Không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định vật chứng thu giữ của Cầm Văn N, kết quả: “05 viên nén màu hồng trong gói nilon màu đen có tổng khối lượng 0,51 gam. Trích toàn bộ 05 viên có tổng khối lượng 0,51 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu T”.

Kết luận giám định số 58/KL-KTHS ngày 20/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,51 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,51 gam; loại Methamphetamine.

Về vật chứng còn lại: 01 mảnh giấy nilon màu đen, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La quyết định chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 - Sơn La bảo quản chờ xử lý.

Do có hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số: 13/CT-VKSKV4 ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Sơn La truy tố Cầm Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025).

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Cầm Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mua tổng số 0,51 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.

* Tranh luận tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025):

Tuyên bố bị cáo Cầm Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Cầm Văn N từ 38 tháng đến 42 tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2025 là ngày bắt tạm giữ đối với bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) mảnh nilon màu đen.

- Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cầm Văn N.

Ý kiến của bị cáo Cầm Văn N tự bào chữa: Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến gì thêm.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 15/12/2025 bị cáo Cầm Văn N có hành vi mua và cất giấu trái phép 0,51 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng. khi đang trên đường quay về nhà đến địa phận bản H, xã P, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an xã P, Công an xã Sông Mã và Phòng PC04 - Công an tỉnh Sơn La kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ của Cầm Văn N toàn bộ vật chứng liên quan.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an xã P lập; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; Kết luận giám định số: 58/KL- KTHS ngày 20/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La…

Lời khai nhận tội của bị cáo Cầm Văn N tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa.

Với các căn cứ chứng minh nêu trên có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Cầm Văn N đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La truy tố đối với bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ.

Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Cầm Văn N thực hiện hành vi phạm tội với tổng khối lượng ma túy tàng trữ trái phép là 0,51 gam Methamphetamine, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Methamphetamine .... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, có mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo Cầm Văn N là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Cầm Văn N thành khẩn khai báo và bị cáo có ông nội Cầm Văn Cấu là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạnh nhì nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về mức hình phạt áp dụng: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ, sử dụng chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng vì vậy cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ, các tình tiết về nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đảm bảo biện pháp giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương và răn đe, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo Cầm Văn N còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự “...người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo Cầm Văn N không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 01 mảnh giấy nilon màu đen gói ma túy ban đầu, xét thấy đây là loại vật chứng liên quan đến việc phạm tội của bị cáo và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc 0,51 gam Methamphetamine bị thu giữ, bị cáo Cầm Văn N khai mua của 01 người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) tại khu vực ven đường thuộc bản H, xã P, tỉnh Sơn La, việc mua bán không có ai cùng tham gia, chứng kiến, ngoài lời khai của bị can, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ nào khác để xác minh, điều tra mở rộng vụ án. Buộc bị can Cầm Văn N phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng 0,51 gam Methamphetamine thu giữ trong vụ án.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Cầm Văn N, quá trình điều tra xác định Nguyên không thuộc đối tượng chủ thể của Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).

Về án phí: Bị cáo Cầm Văn N là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025:

Tuyên bố bị cáo Cầm Văn N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Cầm Văn N 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2025 (Ngày bắt tạm giữ bị cáo).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy nilon màu đen gói ma túy ban đầu.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 56/BB-PTHADS, ngày 07/04/2026 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cầm Văn N.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 18/5/2026). [Nơi nhận:

Cỡ chữ