vanban.org

Bản án 78/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 20/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vàng Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Căn cứ các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng Thị S - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vàng Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:78/2026/HS-ST
Ngày 20-5-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Hoa Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Lù.

Bà Hoàng Thị Hồng Phóng.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Mai Na - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 4

- Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Ngọc Đức Thạo - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2026/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2026/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Vàng Thị S, (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 17/5/1984, tại xã C, tỉnh Lào Cai; số định danh cá nhân: 0xxx, nơi thường trú: Thôn N, xã C, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng Chà Lềnh và bà Thào Thị S1; có chồng là Thào A C1 (đã chết); có 01 con sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Tại bản án số 31/2016/HSST ngày 16/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái cũ xử phạt 05 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/02/2021 (đã xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ ngày 03/02/2026, tạm giam ngày 06/02/2026, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam V, Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.

- Người bào chữa: Bà Hà Thị Lê - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt.

- Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Lý A H, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn M, xã P, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

- Người làm chứng: Lò Văn Ch, sinh năm 1980, địa chỉ Thôn T, xã C, tỉnh Lào Cai, hiện nay đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam V, Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trên cơ sở nguồn tin về tội phạm do Lò Văn Ch, sinh năm 1980, địa chỉ Thôn T, xã C, tỉnh Lào Cai cung cấp, khoảng 11 giờ ngày 03/02/2026, tổ công tác Công an xã C, tỉnh Lào Cai đã đến nhà Vàng Thị S để làm việc và yêu cầu S giao nộp các đồ vật, tài liệu liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật. Quá trình làm việc, Vàng Thị S đã tự giác đi vào khu vực bếp của gia đình, lấy từ trên gác bếp giao nộp cho tổ công tác 01 gói bằng mảnh nilon màu đen, buộc túm một đầu, bên trong chứa 08 gói nilon màu xanh và 01 gói nilon màu đen đều được hàn kín một đầu, trong mỗi gói đều có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là Heroin). Vàng Thị S khai nhận toàn bộ số chất bột nén màu trắng nêu trên là ma túy Heroine của S cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vàng Thị S về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và thu giữ vật chứng để xử lý theo quy định.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Vàng Thị S không phát hiện thu giữ tài liệu, đồ vật gì.

Kết quả điều tra xác định: Khoảng đầu tháng 9/2025, khi đang ở nhà một mình thì Vàng Thị S có gặp một người nam giới dân tộc Mông tự xưng tên là S2, trú tại tỉnh Sơn La đến nhà hỏi S có muốn bán ma túy không và thỏa thuận nếu bán được ma túy thì sẽ được hưởng 50% số tiền thu lợi. Sau khi đồng ý, S được người đàn ông này giao cho một lượng ma túy đã được chia thành nhiều gói nhỏ bằng nilon màu xanh, màu đen và màu đỏ, hàn kín một đầu để đem bán kiếm lời. Nhận số ma túy trên, S cất giấu tại khu vực bếp của gia đình.Đến khoảng giữa tháng 9/2025, tại nhà ở của mình, Vàng Thị S đã bán cho Lò Văn Ch 02 gói Heroine được gói bằng nilon màu đỏ với giá 100.000 đồng. Số ma túy còn lại, S tiếp tục cất giấu trên gác bếp thuộc khu vực nhà bếp nhằm mục đích bán kiếm lời. Chưa kịp bán thì ngày 03/2/2026 bị phát hiện, bắt quả tang. Lời khai của Vàng Thị S phù hợp với lời khai của Lò Văn Ch về việc mua bán ma túy.

Tại các biên bản xét nghiệm ma túy, biên bản thử thai ngày 03/2/2026 đối với Vàng Thị S đều có kết quả âm tính.

Tại bản kết luận giám định số Kết luận giám định số 143/KL-KTHS ngày 09/02/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Số chất bột nén màu trắng trong phong bì niêm phong thu giữ của Vàng Thị S gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng 0,52 gam

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSLCI- KV ngày 28/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố Vàng Thị S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố về tội danh đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Vàng Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, về hình phạt đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vàng Thị S từ 03 năm 06 tháng tù đến 03 năm 09 tháng năm tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về vật chứng vụ án: Tịch thu, tiêu hủy 0,42 gam Heroine (sau khi trích mẫu giám định); 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong, túi nilon, mảnh nilon gói; truy thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng của Vàng Thị S do bán ma túy cho Lò Văn Ch mà có; về án phí bị cáo thuộc hộ nghèo, đề nghị miễn án phí cho bị cáo và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.

Bị cáo Vàng Thị S nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, do muốn kiếm lời bất chính đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, nói lời sau cùng xin HĐXX cho bị cáo được hưởng hình phạt thấp, đề nghị miễn án phí.

Người bào chữa cho bị cáo cơ bản nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án, đề nghị xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức về pháp luật còn hạn chế, bị cáo thuộc gia đình hộ nghèo. Do vậy đề nghị xem xét xử phạt bị cáo 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; không áp dụng hình phạt bổ sung đối, đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người làm chứng anh Lò Văn Ch đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt có đơn xin vắng mặt, việc vắng mặt người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, HĐXX vẫn tiến hành xét xử và công bố lời khai của người làm chứng tại phiên tòa.

Lời khai tại phiên tòa của bị cáo Vàng Thị S phù hợp với lời khai của Lò Văn Ch, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng, đủ cơ sở kết luận: Khoảng đầu tháng 9/2025, do hám lợi, Vàng Thị S đã nhận một lượng ma túy Heroine từ một người đàn ông dân tộc Mông tự xưng là S2, không rõ nhân thân, lai lịch để cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Trong khoảng giữa tháng 9/2025, tại nhà ở của mình, Vàng Thị S đã bán cho Lò Văn Ch 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Số ma túy còn lại 0,52 gam Heroine bị cáo tiếp tục cất giấu tại khu vực gác bếp nhằm để bán thì đến ngày 03/02/2026 bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ. Bị cáo Vàng Thị S là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì lợi nhuận vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, được HĐXX chấp nhận.

Hành vi phạm tội của bị cáo Vàng Thị S có tính chất, mức độ gây nguy hại lớn cho xã hội, xâm phạm đến chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực kiểm soát ma túy và phòng, chống tội phạm ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Cần thiết phải được xử lý nghiêm minh để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo đầy đủ, rõ ràng về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "Người phạm tội thành khẩn khai báo" quy định tại s khoản 1 Điều 51 BLHS được áp dụng cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền sự; năm 2016 từng bị Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến nay đã được xóa án tích, được xác định không có tiền án. Xét thấy bị cáo đã bị xét xử về hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện thiếu ý thức chấp hành pháp luật, là người có nhân thân chưa tốt.

Từ những nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự. HĐXX thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người lương thiện, góp phần răn đe, phòng ngừa và trấn áp tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Đối với đề nghị áp dụng mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát khu vực 4 - Lào Cai là phù hợp với quy định của pháp luật HĐXX sẽ xem xét khi áp dụng hình phạt với bị cáo. HĐXX không chấp nhận đề nghị về mức hình phạt của người bào chữa đối với bị cáo, bởi đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là thấp chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thuộc diện hộ nghèo, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ của vụ án:

+ 0,52 gam Heroine thu giữ khi bắt quả tang của bị cáo đã trích 0,1 gam Heroine sử dụng làm mẫu vật giám định không hoàn lại, còn lại 0,42 gam Heroine hiện đang được niêm phong, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

+ 01 vỏ phong bì và các mảnh nilon gói (sau khi đã mở niêm phong) là những vật liên quan đến tội phạm và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

+ Đối với số tiền 100.000 đồng bị cáo bán ma túy cho Lò Văn Ch, bị cáo đã tiêu sài hết cần truy thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Về vấn đề khác:

- Đối với người đàn ông dân tộc Mông tự xưng là S2 đã đưa ma túy cho bị cáo để bán, không xác minh được lý lịch, địa chỉ cư trú, nên không có cơ sở để xử lý.

- Đối với Lò Văn Ch là người mua ma túy của bị cáo, Ch đã bị Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lào Cai đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can ở vụ án khác về tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, trong vụ án này không xem xét, xử lý đối với Ch.

Về án phí: Bị cáo Vàng Thị S thuộc hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo và người bào chữa đề nghị miễn án phí, Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vàng Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng Thị S 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/02/2026.

3. Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Căn cứ các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;.

- Tịch thu tiêu hủy: 0,42 gam Heroine được niêm phong trong phong bì do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai phát hành; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong; các mảnh nilon gói.

- Truy thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) của bị cáo Vàng Thị S.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 16/5/2026 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4- Lào Cai, tỉnh Lào Cai).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng Thị S.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ