- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Triệu Thị Thanh Th và ông Lê Quang :"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Triệu Thị Thanh T và ông Lê Quang L.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2026/HNGĐ-ST Ngày: 28-4-2026 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Ngọc Phi.
2. Ông Bùi Huy Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 347/2025/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2026/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Triệu Thị Thanh T, sinh ngày 30-12-1991; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Ấp T, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Lê Quang L, sinh ngày 05-6-1987; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Ấp C, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà T, ông L vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Triệu Thị Thanh T, trình bày: Sau khi tìm hiểu nhau được một thời gian, bà T và ông Lê Quang L mới đi đến hôn nhân. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn ngày 17-12-2009 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh).
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, ông L sống không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên ăn nhậu rồi về nhà kiếm cớ gây gổ với bà T; giữa vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Từ tháng 11/2024, vợ chồng bà T đã ly thân cho đến nay. Trong thời gian này, vợ chồng cũng đã tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Nay, bà T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết:
Về hôn nhân: Bà T xin được ly hôn với ông L.
Về nuôi con chung: Vợ chồng bà T, ông L có 03 người con chung Lê Hoàng Ngọc M, sinh ngày 17-5-2009, Lê Quang H, sinh ngày 26-10-2010 và Lê Vĩnh K, sinh ngày 16-11-2016.
Theo đơn khởi kiện, bà T có nguyện vọng được quyền nuôi dưỡng 03 người con chung và yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 2.000.000 đồng/01 tháng/01 người con. Nay, bà T rút lại yêu cầu cấp dưỡng và chỉ có nguyện vọng được quyền nuôi dưỡng con chung.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Lê Quang L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy không lấy lời khai và hòa giải được.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng phần quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Về nuôi con chung: Giao 03 người con chung Lê Hoàng Ngọc M, sinh ngày 17-5-2009, Lê Quang H, sinh ngày 26-10-2010 và Lê Vĩnh K, sinh ngày 16-11-2016 cho bà T được quyền nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí: Bà T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm (DSST) đối với yêu cầu ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng: Bà Triệu Thị Thanh T và ông Lê Quang L sống chung với nhau có đăng ký kết hôn nay bà T yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Nơi cư trú của ông L là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Triệu Thị Thanh T vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Lê Quang L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai (không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan) nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về nội dung vụ án:
. Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà T và ông L trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 17-12-2009 tại UBND xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh).
Theo bà T sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, vợ chồng bất đồng quan điểm, giữa vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẽ nên dần dần tình cảm vợ chồng không còn. Từ tháng 11/2024, bà T và ông L đã ly thân cho đến nay. Trong thời gian này, bà T, ông L cũng đã tìm cách gắn tình cảm nhưng không có kết quả.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bà T và ông L để hoà giải về quan hệ hôn nhân nhưng ông L không đến còn bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Ngoài ra, theo kết quả xác minh thì mâu thuẫn giữa bà T và ông L là có thật.
Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông L ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho bà T được ly hôn với ông L.
. Về nuôi con chung: Bà T và ông L có 03 người con chung Lê Hoàng Ngọc M, sinh ngày 17-5-2009, Lê Quang H, sinh ngày 26-10-2010 và Lê Vĩnh K, sinh ngày 16-11-2016;
Xét thấy, từ khi bà T và ông Lâm ly T1, bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng 03 người con chung. Hiện cả 03 người con chung đều đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được sống với bà T. Do đó, để bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con cần áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung cho bà T được tiếp tục nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.
. Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.
. Về án phí: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bà T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Triệu Thị Thanh T và ông Lê Quang L.
2. Về nuôi con chung: Bà Triệu Thị Thanh T và ông Lê Quang L có 03 người con chung Lê Hoàng Ngọc M, sinh ngày 17-5-2009, Lê Quang H, sinh ngày 26-10-2010 và Lê Vĩnh K, sinh ngày 16-11-2016;
Giao 03 người con chung Lê Hoàng Ngọc M, sinh ngày 17-5-2009, Lê Quang H, sinh ngày 26-10-2010 và Lê Vĩnh K, sinh ngày 16-11-2016 cho bà Triệu Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Triệu Thị Thanh T không yêu cầu ông Lê Quang L cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Lê Quang L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà Triệu Thị Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Bà Triệu Thị Thanh T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tại Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0030295 ngày 24 tháng 10 năm 2025; bà Triệu Thị Thanh T đã nộp xong án phí DSST.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 14 - TP. Hồ Chí Minh; - Thi hành án Dân sự TP. Hồ Chí Minh; -Phòng THA DS KV 14, TP. Hồ Chí Minh; - UBND xã B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Thị Thanh Nga |