- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thanh H phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Phan Thanh H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2025/HSST Ngày 15 tháng 4 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Quỳnh C;
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Phương L
Bà Lê Thị H
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu V, Thư ký Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận B, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Việt K - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội – Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2025/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Thanh H, sinh năm: 1992;
Nơi thường trú: TDP X, phường N, thành phố Đ, tỉnh Q;
Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ văn hoá: 12/12;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Con ông: Phan Thanh H, sinh năm 1964;
Con bà: Cao Thị Lương Q, sinh năm 1969;
Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất;
Danh bản và chỉ bản số: 00000117, lập ngày: 11/11/2024, tại: Công an quận B, thành phố Hà Nội.
- Tiền án: 02 Tiền án.
+) Bản án hình sự sơ thẩm số 279/2023/HSST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh T xử phạt Phan Thanh H 07 năm tù về tội Cướp tài sản.
+) Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HSST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội xử phạt Phan Thanh H 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp với hình phạt 07 năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 279/2023/HSST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh T buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 07 năm 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/5/2023.
Tiền sự: Không.
Bị can đang chấp hành án theo Quyết định thi hành án phạt tù số 360/2023/QĐ-CA ngày 26/10/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh T và Quyết định thi hành án phạt tù số 49/2024/QĐ-CA ngày 29/02/2024 của Chánh án Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội tại Trại tạm giam T – BCA, hiện đang được trích xuất để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử tại Trại tạm giam số 01 – Công an thành phố Hà Nội.
(Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Chị Phùng Thị L, sinh năm: 2000; Nơi thường trú: Thôn C, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 29/9/2021, chị Phùng Thị L (Sinh năm: 2000; Nơi thường trú: Thôn C, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội) đến Công an phường Đ, B, TP. Hà Nội trình báo về việc ngày 22/9/2021 tại phường Đ, B, Hà Nội, Phan Thanh H (Sinh năm: 1992; Nơi thường trú: TDP X, phường N, thành phố Đ, tỉnh Q) có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt 01 Laptop nhãn hiệu Dell và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Future lắp biển kiểm soát 30N1-xxxx.
Quá trình điều tra xác định:
Khoảng tháng 8/2021, chị Phùng Thị L và Phan Thanh H có quan hệ tình cảm với nhau. Ngày 22/9/2021, thông qua mạng xã hội zalo H có nhắn tin đến tài khoản zalo của chị L hỏi mượn laptop một ngày mục đích để học tiếng Nhật, chị L đồng ý. Sau đó H đến phòng trọ của L tại địa chỉ số 48, ngõ 56 L, Đ, B, Hà Nội. Tại đây chị L giao cho H mượn một máy Laptop nhãn hiệu Dell Inspiron 15, màu bạc. Sau khi nhận được Laptop, H mang về phòng trọ sử dụng. Do không có tiền tiều xài, H đã nảy sinh ý định cầm cố chiếc Laptop của chị L. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 23/9/2021 H đi một mình đến cửa hàng cầm đồ tại địa chỉ số A, ngõ B, đường M, M2, N, Hà Nội hỏi cầm cố chiếc Laptop Dell, sau khi thoả thuận chị Lê Thị Tuyết H (Sinh năm: 1979; Nơi thường trú: TDP X, P M2, N, Hà Nội) đồng ý cầm cố chiếc Laptop cho H với giá 2.800.000 đồng. Sau khi nhận được tiền H đã sử dụng để tiêu xài cá nhân
Ngày 24/9/2021 chị L gọi điện cho H lấy lại máy tính, thì H nói lý do là đang để laptop nhà người quen chưa lấy về trả được. Đến ngày 26/9/2021, H gọi điện cho chị L mượn xe máy để đi lấy laptop về trả. Chị L đồng ý và tiếp tục cho H mượn 01 xe máy nhãn hiệu Honda Future BKS 30N1-xxxx. Sau khi nhận được xe máy từ chị L, H đăng tin bài trong nhóm “Hội xe không giấy tờ Hà Nội” trên mạng xã hội Facebook với nội dung “Có 01 xe máy Honda cần cầm cố với giá 3.000.000 đồng”. Sau khi đọc được tin bài anh Nguyễn Tá H (Sinh năm: 1992; Nơi thường trú: H, T, Hà Nội) đã liên hệ với Phan Thanh H để trao đổi và hẹn xem xe tại số x , ngõ B, T, H, T, Hà Nội. Sau đó H điều khiển xe đến điểm hẹn gặp anh H. Sau khi kiểm tra xe anh H đồng ý cầm cố chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Future BKS 30N1-xxxx với giá 3.000.000 đồng, anh H đưa H 2.900.000 đồng và cắt lại 100.000 đồng tiền lãi, H hẹn sau 5 ngày sẽ quay lại lấy xe đồng thời viết tay một giấy cầm cố xe đồng thời để lại 01 căn cước công dân photo mang tên Phan Thanh H. Sau khi nhận được tiền H đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 17 giờ 00 cùng ngày, H có nhắn tin qua zalo cho chị L với nội dung do nợ nần nên đã cầm cố chiếc laptop với giá 2.800.000 đồng tại cửa địa chỉ số X, ngõ A, đường M, M2, N, Hà Nội và cầm cố chiếc xe máy của chị L tại địa chỉ: số A, ngõ B, T, H, T, Hà Nội với giá 3.000.000 đồng thời gửi số điện thoại 097575xxxx của anh H để chị L liên hệ. Đến ngày 27/9/2021, chị L đã đến địa chỉ trên để chuộc lại xe máy với giá 3.100.000 đồng và chuộc lại chiếc Laptop với giá 2.900.000 đồng. Ngày 29/9/2021, chị L đến Công an phường Đ trình báo nội dung như đã nêu trên.
Tại cơ quan điều tra Phan Thanh H khai nhận hành vi như đã nêu trên, toàn bộ số tiền cầm cố tài sản của chị L, H đã sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe máy kiểu dáng Honda future màu vàng, BKS 30N1-3xxx, đã qua sử dụng
- 01 máy tính laptop nhãn hiệu Dell Inspirion 15, màu bạc, đã qua sử dụng.
- Kết luận định giá tài sản số 416/KL-HDDGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận:
+ 01 xe máy kiểu dáng Honda future màu vàng, BKS 30N1-3xxx trị giá 10.000.000 đồng
+ 01 máy tính laptop nhãn hiệu Dell Inspirion 15, màu bạc trị giá 4.000.000 đồng
- Xác minh nguồn gốc xe máy kiểu dáng Honda future màu vàng, BKS 30N1-3xxx, số khung 019xxx. Số máy 0060xxx chủ sở hữu là anh Nguyễn Đình L (Sinh năm: 1984; Nơi thường trú: B, V, TB). Tại cơ quan điều tra anh L khai cho Phùng Thị L mượn chiếc xe máy trên để đi làm.
Đối với chị Lê Thị Tuyết H có hành vi nhận cầm cố 01 chiếc laptop nhãn hiệu Dell Inspirion 15 của Phan Thanh H chiếm đoạt của chị L, quá trình điều tra xác định khi thoả thuận với H về việc nhận cầm cố chị H đã kiểm tra căn cước công dân của H, do H biết mật khẩu của máy và khẳng định là tài sản của H nên chị H đã tin tưởng nhận cầm cố và không biết là tài sản H chiếm đoạt nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với chị H.
Đối với anh Nguyễn Tá H có hành vi nhận cầm cố 01 xe máy kiểu dáng Honda future màu vàng, BKS 30N1-3xxx chiếm đoạt của chị L, quá trình điều tra xác định, khi thoả thuận về việc nhận cầm cố anh H đã kiểm tra căn cước công dân của H, kiểm tra thấy ổ khoá và số khung, số máy không bị đục, phá, H khẳng định là xe của H tuy nhiên đang bị mất giấy tờ xe nên anh T đã tin tưởng cho H cầm cố và không biết xe máy là tài sản H chiếm đoạt nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh H.
Ngày 30/10/2021, cơ quan CSĐT – Công an quận B đã trao trả lại 01 xe máy Honda future màu vàng, BKS 30N1-3xxx và 01 laptop nhãn hiệu Dell Inspirion 15 cho chị Phùng Thị L, chị L đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
Về trách nhiệm dân sự: chị Phùng Thị L không có yêu cầu gì về dân sự.
Tại bản cáo trạng số: 59/CT-VKSBTL ngày 10/3/2025 Viện kiểm sát nhân dân quận B quyết định truy tố bị cáo Phan Thanh H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Phan Thanh H thành khẩn khai báo các tình tiết vụ án, thừa nhận bản cáo trạng truy tố là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo:
Khẳng định cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội danh, khung hình phạt và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phan Thanh H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo: Phan Thanh H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo: Phan Thanh Hùng mức án từ 15 đến 20 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự nên không xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo bày tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, mong muốn được Tòa án xét giảm ở mức độ nhẹ nhất.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của bị cáo và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, TP Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, TP Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tội danh và khung hình phạt Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo:
Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận toàn bộ, rõ ràng về các hành vi đúng như nội dung bản cáo trạng mô tả. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai chính của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ được cơ quan điều tra thu thập hợp pháp. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng tháng 5/2021, Phan Thanh H và Phùng Thị L phát sinh quan hệ tình cảm. Đến ngày 21/9/2021, tại nhà trên đường L, Đ, B, Hà Nội chị L cho H mượn 01 chiếc laptop nhãn hiệu Dell Inspirion 15 trị giá 4.000.000 đồng mục đích để H sử dụng học tập. Sau khi nhận được laptop, H đã nảy sinh ý định cầm cố để lấy tiền tiêu xài, ngày 23/9/2021 H đưa ra thông tin gian dối chiếc laptop là tài sản cá nhân để cầm cố chiếc laptop với giá 2.800.000 đồng. Đến ngày 26/9/2021, H tiếp tục cầm cố 01 xe máy nhãn hiệu Honda future màu vàng, BKS 30N1-3xxx trị giá 10.000.000 đồng là tài sản mượn của chị L lấy số tiền 2.900.000 đồng. Sau khi cầm cố tài sản của chị L lấy xiền tiêu xài cá nhân, H bỏ trốn và cắt liên lạc với chị L.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu hoàn thành của tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt áp dụng đối với bị cáo được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015.
Do đó, bản cáo trạng số: 59/CT-VKSBTL ngày 10/3/2025 Viện kiểm sát nhân dân quận B quyết định truy tố bị cáo Phan Thanh H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được luật hình sự bảo vệ. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xét xử các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu,hiện đang chấp hành hình phạt từ tại Trại giam Thanh Lâm của bản án khác.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thể hiện thái độ ăn năn, hối cải về hành vi vi phạm pháp luật nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[5]. Về hình phạt:
Đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị cáo thực hiện, nguyên nhân, mục đích, động cơ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội. Mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7].
Về dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8].
Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật. Bị hại có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo: Phan Thanh H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175, Điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Phan Thanh H: 16 (Mười sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 07 (bảy) năm 10 (mười) tháng tù của Bản án số 18/2024/HSST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là: 9 ( chín) năm 02 (Hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/5/2023.
2. Áp dụng Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
2.1. Về dân sự: Không.
2.2. Về án phí:
Buộc bị cáo Phan Thanh H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
2.3. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên bản án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TT lý lịch-Sở Tư pháp Hà Nội; - VKSND Q. B; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an Q. B; - Chi cục THADS Q.B; - Lưu HS – VP. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đặng Quỳnh C |