vanban.org

Bản án 78/2025/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tuyên án 28/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Chìn A P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Chìn A P. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 4,46 gam Heroine; 02 mả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chìn A P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Chìn A P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2025/HSST
Ngày: 28/04/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, ông: Lò Xuân Hải.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông: Lù Thanh Xá.

Ông: Lý Ngọc Sáng.

- Thư ký phiên tòa, ông: Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa, bà: Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh L, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2025/TL-ST-HS, ngày 08 tháng 04 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2025/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 04 năm 2025, đối với bị cáo.

- Chìn A P: Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/01/1995; tại: Xã B, huyện M, tỉnh L; nơi thường trú: Bản N, xã B, huyện M, tỉnh L; số CCCD: 012095003293; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Mảng; tôn giáo: Không; đảng, đoàn: Không; con ông Chìn A T ( đã chết) và con bà Tao Thị G, sinh năm 1969; vợ Lò Thị D, sinh năm 1999; con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân chưa bị xử lý; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại M thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L - Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Chìn A P, ông: Nguyễn Công Hưởng - Trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L - Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị: Chìn Thị P, sinh năm 1997 - Trú Tại: Bản N, xã B, huyện M, tỉnh L - Có mặt.

- Người làm chứng, anh: Chìn A Q, sinh năm 2003 - Trú Tại: Bản N, xã B, huyện M, tỉnh L - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 15 giờ ngày 21/12/2024, Chìn A P đi đến nhà em trai Chìn A Q ở bản N, xã B, huyện M, tỉnh L, để nhờ Q chở lên bản P, xã K, huyện M, tỉnh L để mua ma túy về sử dụng nhưng không nói mục đích cho Q biết. Sau đó Q đi sang nhà Chìn Thị P mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen - trắng, biển kiểm soát 25H1 - 046.01, rồi chở P đi lên bản P, xã K, huyện M, tỉnh L. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực lò gạch cũ tại xã K, thì dừng xe lại để P đi vào rừng về sinh, sau khi vệ sinh xong thì P gặp một người đàn ông lạ mặt, không rõ nhân thân, lai lịch và mua của người đàn ông này 02 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh bọc chung bằng một mảnh nilon màu hồng, bên ngoài quấn thêm lớp lá cây màu xanh và buộc bằng một sợi dây màu trắng với giá 1.200.000 đồng. P cầm số Heroine trong tay phải rồi quay lại chỗ Q đang đứng chờ, sau đó Q điều khiển xe máy chở P quay về nhà ở bản C, xã B, huyện M. Đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực bản L, xã B, huyện M, tỉnh L, thì bị tổ công tác Công an xã B, huyện M đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Chìn A P, thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại kết luận giám định số: 140/KLGĐ-CA, ngày 21/12/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và bản kết luận: 02 mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Chìn A P có tổng khối lượng là 4,81 gam.

Tại kết luận giám định số: 71/GĐ-KTHS ngày 28/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh L, kết luận: 02 mẫu chất bột khô, màu trắng (ký hiệu từ mẫu 01 và mẫu 02) thu giữ của Chìn A P gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 40/CT-VKS-MT ngày 08 tháng 04 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố Chìn A P về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:

- Trách nhiệm hình sự: Đối với Chìn A P về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Chìn A P, từ: 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù, về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do điều kiện kinh tế của bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 4,46 gam Heroine; 02 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 lá cây màu xanh; 01 sợi dây vải màu trắng; 01 phong bì Công văn màu trắng do Công an xã B, huyện M phát hành đã bị cắt một đầu. Đây là những vật chứng của vụ án còn lại sau giám định.

+. Đối với 0,35 gam Heroine đã trích giử toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý.

+. Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen - trắng, biển kiểm soát 25H1 - 046.01. Trong quá trình điều tra đã xác định chủ sở hữu chiếc xe máy như trên là của Chìn Thị P, sinh năm 1997 - Trú tại: Bản C, xã B, huyện M, tỉnh L. P không biết và không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Chìn A P, quá trình làm việc tại cơ quan điều tra, P đề nghị xin lại chiếc xe máy để phụ vụ đời sống sinh hoạt của gia đình. Nên cần trả lại cho Chìn Thị P.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích tính chất, hành vi, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, người bào chữa đồng ý với nội dung cáo trạng truy tố và lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện M. Về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Mảng), sống ở vùng biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo, bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị: Chìn Thị P, trình bày, chị không biết và không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Chìn A P, quá trình làm việc tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, chị đề nghị xin lại chiếc xe máy để phụ vụ đời sống sinh hoạt của gia đình. Ngoài ra chị không có ý kiến gì thêm.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 21/12/2024, tại bản L, xã B, huyện M, tỉnh L. Chìn A P, đang có hành vi tàng trữ trái phép 4,81 gam Heroine để sử dụng cho bản thân, thì bị Công an xã B, huyện M, tỉnh L, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội. Bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy Hội đồng xét xử xét phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Chìn A P luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo. Nhận thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Mảng), nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản C, xã B thuộc huyện M, tỉnh L, là huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Chìn A P không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về nhân thân: Bị cáo Chìn A P có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 06/12, lớn lên ở nhà tham gia lao động sản xuất tại địa phương, nhận thức pháp luật hạn chế, là người sử dụng chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân nên đã cố ý phạm tội.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Mảng), nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản C, xã B thuộc huyện M, tỉnh L là huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 4,46 gam Heroine; 02 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 lá cây màu xanh; 01 sợi dây vải màu trắng; 01 phong bì Công văn màu trắng do Công an xã B, huyện M phát hành đã bị cắt một đầu. Đây là những vật chứng của vụ án còn lại sau giám định.

- Đối với 0,35 gam Heroine đã trích giử toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý.

- Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen - trắng, biển kiểm soát 25H1 - 046.01. Trong quá trình điều tra đã xác định chủ sở hữu chiếc xe máy như trên là của Chìn Thị P, sinh năm 1997 - Trú tại: Bản C, xã B, huyện M, tỉnh L. P không biết và không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Chìn A P, quá trình làm việc tại cơ quan điều tra, P đề nghị xin lại chiếc xe máy để phụ vụ đời sống sinh hoạt của gia đình. Nên cần trả lại cho Chìn Thị P. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

. Về án phí hình sự sơ thẩm, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Mảng), nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản C, xã B thuộc huyện M, tỉnh L là huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo.

. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Chìn A P đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy ý kiến của Kiểm sát viên và của người bào chữa tại phiên tòa về: Tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận. [10]. Đối với người đàn ông lạ mặt đã bán Heroine cho bị cáo Chìn A P với giá 1.200.000 đồng. Trong qúa trình điều tra không xác định được lai lịch của người đàn ông này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [11]. Đối với Chìn A Q và Chìn Thị P. Quá trình điều tra xác định Q và P không biết và không liên quan đến việc Chìn A P thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, không xem xét xử lý đối với Q và P. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo: Chìn A P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Chìn A P: 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 21/12/2024.

- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Chìn A P.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 4,46 gam Heroine; 02 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 lá cây màu xanh; 01 sợi dây vải màu trắng; 01 phong bì Công văn màu trắng do Công an xã B, huyện M phát hành đã bị cắt một đầu. Đây là những vật chứng của vụ án còn lại sau giám định.

+. Đối với 0,35 gam Heroine đã trích giử toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

+. Trả lại 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu sơn đen - trắng, biển kiểm soát 25H1 - 046.01. Số khung JLHJA5850PI236195, số máy JA526-0604016, không có chìa khóa xe (đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng của xe) Cho chị Chìn Thị P, sinh năm 1997 - Trú tại: Bản C, xã B, huyện M, tỉnh L.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Chìn A P.

- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày nhận được tống đạt bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ