- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2025/HS-ST Ngày 26 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ- TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương và bà Nguyễn Thị Huê.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Chính - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Đức A, sinh năm 1995 tại Hà Nam; nơi ĐKNKTT: Thôn Ô , xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: Tiểu Khu K, thị trấn K, huyện T, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Khắc V và bà Nguyễn Thị T (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị H; Con: có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: tốt. Bị bắt tạm giữ ngày 14/01/2025 đến ngày 23/01/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.
Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 13/01/2025, Trần Đức A đi bộ từ chỗ ở ra khu vực gần chợ K và thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi chở đến thành phố P mục đích tìm mua ma tuý để sử dụng. Khi đến khu vực gần sân bóng H thuộc tổ 6, phường L, thành phố P, Đức A xuống xe và đi bộ đến gần cột điện phía sau sân bóng H thì gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết tên tuổi, địa chỉ) đi xe mô tô không đeo biển số, và nói muốn mua mua ma tuý. Người đó bảo đưa tiền, Đức A lấy 500.000đ đưa cho người đàn ông và đứng đợi. Người đàn ông điều khiển xe mô tô đi, khoảng 5 phút sau quay lại, ném vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng xuống nền đường ngay chỗ Đức A đứng rồi bỏ đi. Đức A nhặt vỏ bao thuốc lá Thăng Long lên kiểm tra bên trong có 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có 03 viên nén hình tròn màu đỏ, biết đó là ma tuý nên gói lại và bỏ vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long, cất vào túi quần bên phải đang mặc, mục đích để sử dụng. Khi đi được một đoạn thì bị lực lượng Công an phường T thấy Đức A có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểnm tra, phát hiện và đưa Đức A cùng vật chứng về trụ sở Công an phường L lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có 03 viên nén hình tròn màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01 và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
Tại bản kết luận giám định số 60/KL-KTHS ngày 20/012025 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: “Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT 01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,285g loại Methamphetamine”
Tại bản cáo trạng số 74/CT-VKS-PL ngày 01/42025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố Trần Đức A: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Trần Đức A theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến thay đổi, bổ sung. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Đề nghị xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 14/01/2025, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy cùng bao gói trong phong bì niêm phong hoàn trả sau giám định và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cơ bản như bản cáo trạng đã mô tả, không tranh luận, bào chữa và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình, xã hội và xin miễn phạt tiền bổ sung
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến phản đối hoặc khiếu nại. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.
Đối với người tham gia tố tụng là người chứng kiến đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt và công bố lời khai là đúng theo quy định của pháp luật.
Đánh giá về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Trần Đức A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận của cơ quan giám định về ma tuý, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy HĐXX có đủ chứng cứ buộc tội kết luận:
Khoảng 20 giờ ngày 13/01/2025, tại tổ 6, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, Trần Đức A đang cất giữ trái phép 0,285 gam ma túy, loại Methamphetamine ở trong túi quần bên phải để sử dụng thì bị lực lượng Công an phường T phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của Trần Đức A đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
Đánh giá về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thành phố P, là nguyên nhân trực tiếp phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm nguy hiểm khác gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Cân nhắc nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự HĐXX sẽ xem xét áp dụng hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, cần tuyên mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với chính bị cáo và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm chung trong cộng đồng.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng không có mục đích trục lợi, không có tài sản, thu nhập nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Đối với toàn bộ số ma túy Methamphetamine cùng bao gói có trong phong bì niêm phong hoàn trả sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Các vấn đề khác của vụ án:
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, bị cáo khai mua của người đàn ông không khoảng 40 tuổi không rõ tên, tuổi, địa chỉ, gặp ở khu tực sau sân bóng H thuộc tổ 6, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hà Nam đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 106; 135; 136; 331; 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Tuyên bố bị cáo Trần Đức A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Đức A 27 (hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 14/01/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2/ Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01” số 60/KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam; 01(một). vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. (Tình trạng, đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 02/4/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra
- Công an tỉnh Hà Nam với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý).
3/ Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Đức A phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành bản án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối Cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND TP Phủ Lý; - Phòng NVHS Công an tỉnh Hà Nam; - Cơ quan THAHS có thẩm quyền; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Chi cục THADS TP Phủ Lý; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thị Mai Oanh |