vanban.org

Bản án 78/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ”.

Xử phạt: Nguyễn Văn K 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 31/3/2025. Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà nếu bị cáo đang không bị tạm giam về một tội phạm khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn K lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt TS - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2025/HS-ST
Ngày 31 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bỉnh Thái; Bà Đào Thị Thu.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Tân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Du.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2025/HSST ngày 05/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-HS ngày 18/3/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn K, sinh năm 2003.

HKTT: Thôn Rền, xã Cảnh Hưng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn K, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1977; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Bắc Ninh.(Có mặt).

Bị hại: Anh Nguyễn Đăng T, sinh năm 2003. HKTT: Thôn X, xã Cảnh Hưng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.(Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

-Anh Đào Đình Q, sinh năm 1993. HKTT: Thôn C, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.(Vắng mặt)

-Anh Phan Văn C, sinh năm 1992. HKTT: Thôn D, xã K Phú, huyện Yên K, tỉnh Ninh Bình.(Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 13/11/2024, K đang đi chơi ở xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du vì không có xe để đi về nên K dùng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng nhắn tin qua ứng dụng Messenger của Facebook với tên tài khoản “K Tey” cho tài khoản tên “Nguyễn Đăng T” để nhờ anh T đón K. Lúc này do anh T đang chơi game ở quán net “Gaming Cầu Sộp” ở xã Phật Tích, huyện Tiên Du nên không đi đón được. Thấy anh T bảo vậy, K nói với anh T là để K nhờ anh Nguyễn Đình Hùng đến mượn xe của anh T để anh Hùng đi đón K, anh T đồng ý (anh T, anh Hùng và K là bạn bè). Sau đó, K nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho tài khoản tên “Nguyễn Đình Hùng” bảo anh Hùng đến quán net mà anh T đang chơi để lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, màu đen, BKS: 99C1-521.10 của anh T đi đến đoạn Ao Bèo, thôn Đồng Xép, xã Hoàn Sơn đón K, K nói với Hùng đã hỏi mượn xe anh T rồi. Anh Hùng đồng ý và đi bộ đến quán net chỗ anh T đang chơi điện tử và lấy xe của anh T để đi đón K. Khi đến quán, anh Hùng nói với anh T “anh đưa chìa khóa để em ra đón K, K bảo rồi à” T bảo “ừ” rồi anh T đưa chìa khóa xe mô tô cho anh Hùng. Khoảng 10 phút sau, anh Hùng điều khiển chiếc xe mô tô của anh T đến đón K. Sau đó, anh Hùng điều khiển xe mô tô chở K về nhà anh Hùng. Anh Hùng xuống xe và bảo K điều khiển xe đến trả lại anh T, K đồng ý. Sau khi có xe của anh T, K đã nảy sinh ý định mang chiếc xe mô tô của anh T đi cầm cố, lấy tiền chi tiêu cá nhân. Sau đó K gọi điện thoại qua ứng dụng zalo tên tài khoản là “K tey” vào tài khoản zalo tên “Đình Q” của anh Đào Đình Q “Em cần tiền gấp, anh cho em vay 30.000.000 đồng, em đặt chiếc xe Honda SH làm tin vài ngày nữa em sẽ trả”. Anh Q đồng ý và hẹn K đến nhà để cho vay tiền. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, K điều khiển chiếc xe mô tô đến nhà anh Q, tại đây K gặp anh Q và chị Ngô Thị Thanh Tâm (là vợ anh Q) hỏi vay số tiền 30.000.000 đồng và đặt chiếc xe của anh T để làm tin. Anh Q hỏi xe của ai thì K bảo “xe của em mới mua của bạn, giấy tờ em để ở nhà, em vay nóng trong vòng 5 ngày thì em sẽ trả”, anh Q tin tưởng và đồng ý cho K vay 30.000.000 đồng. Sau khi có tiền, K tiêu hết số tiền này. Trong thời gian này, anh T nhiều lần liên lạc yêu cầu K trả xe nhưng K không trả lời nên anh T đã làm đơn tố giác tới Cơ quan Công an.

Ngày 05/12/2024, K đã đến cơ quan công an để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng gắn sim viettel số 033335819.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 120/KL-ĐGTSTTHS ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Du kết luận: “01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH125i màu đen, số khung: RLHIJF9506NY147366, số máy: JF95E0162464, BKS: 99C1-521.10 có giá trị 65.000.000 đồng”.

Ngày 07/12/2024, sau khi biết chiếc xe trên do K phạm tội mà có anh Q đã tự nguyện giao nộp chiếc xe trên cho Cơ quan điều tra. Ngày 10/12/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T chiếc xe mô tô trên. Anh T đã nhận lại chiếc xe, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Anh Q yêu cầu K phải trả cho anh 30.000.000 đồng. Ngày 09/12/2024, anh Phan Văn C là anh rể của K đã bồi thường cho anh Q số tiền 20.000.000đ. Anh Q đã nhận số tiền trên, không yêu cầu K phải bồi thường số tiền 10.000.000 đồng còn lại và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho K. Anh C cũng không yêu cầu K phải trả cho anh số tiền trên.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 25/CT - VKS -TD ngày 04 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du truy tố Nguyễn Văn K về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ” theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Quá trình xét hỏi tại phiên toà, bị cáo K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội đã giữ nguyên cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c, khoản 2, Điều 175; Điểm s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K từ 30 tháng đến 34 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trả tự cho cho bị cáo ngay tại phiên toà nếu bị cáo đang không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Cảnh Hưng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng. Tịch thu tiêu huỷ 01 thẻ sim viettel của K.

Bị cáo K thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố là đúng, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan T hành tố tụng đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do vậy Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Sau khi được anh Nguyễn Đăng T cho mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, màu đen, BKS: 99C1-521.10, do không có tiền chi tiêu cá nhân nên khoảng 15 giờ 30 phút ngày 13/11/2024, Nguyễn Văn K đặt chiếc xe mô tô của anh T trị giá 65.000.000 đồng làm tin để vay của anh Đào Đình Q số tiền 30.000.000 đồng. Sau đó K đã một mình ăn tiêu hết số tiền trên và không có khả năng trả lại xe cho anh T. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quan hệ sở hữu về tài sản của công dân, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, cần có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi mà bị cáo đã phạm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, sau khi phạm tội nhận thức được hành vi của mình là sai và đã đến cơ quan Công an đầu thú. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có ông ngoại là liệt sĩ; Quá trình bị tạm giam, bị cáo tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho anh Q, anh Q có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại phiên toà anh T xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đối chiếu với các quy định pháp luật và xét đề nghị của Đại điện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho UBND xã nơi bị cáo cư trú quản lý giáo dục như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập, tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng bên trong có gắn thẻ sim của K được xác định dùng vào mục đích nhắn tin thực hiện hành vi tội phạm nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với chiếc sim không có giá trị cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với anh Q là người đã cho K vay số tiền 30.000.000 đồng và nhận đặt xe làm tin. Khi anh Q hỏi về nguồn gốc chiếc xe thì K bảo “Xe mới mua của bạn, giấy tờ để ở nhà”, do là bạn bè quen biết với nhau trước đó nên anh Q mới đồng ý cho K vay tiền. Anh Q không biết xe là do K phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý anh Q về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cơ quan điều tra chỉ T hành giáo dục nhắc nhở đối với anh Q là phù hợp.

Đối với việc anh Q tự nguyện không yêu cầu bị cáo K phải trả nốt số tiền còn lại là 10.000.000 đồng và anh C không yêu cầu bị cáo K phải trả anh số tiền 20.000.000 đồng anh trả cho anh Q. Xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự do vậy không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ”.

- Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 175; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Điều 328 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn K 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 31/3/2025.

Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà nếu bị cáo đang không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Nguyễn Văn K cho Ủy ban nhân dân xã Cảnh Hưng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng. Tịch thu tiêu huỷ 01 thẻ sim của K.

(Theo đúng biên bản giao nhận tài sản, vật chứng giữa Công an huyện Tiên Du và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Du ngày 24/02/2025).

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

Bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo K, Bị hại, Người liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết kết quả bản án.

Cỡ chữ