vanban.org

Bản án 78/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Bích Ly L đối với ông Lê Trọng N về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Bích Ly L đƣợc ly hôn với ông Lê Trọng N.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Bích LL - Lê Trọng N"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 78/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 04 - 6 - 2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Công.

2. Bà Nguyễn Thị Túy Phƣợng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sao Mai – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Bƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án thụ lý số: 43/2025/TLST-HNGĐ ngày 16/01/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 61/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Vũ Bích Ly L, sinh năm: 1989; Nơi thƣờng trú: 4 H, phƣờng B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: 34 đƣờng C, Phƣờng A, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Trọng N, sinh năm: 1983; Nơi thƣờng trú: 4 H, phƣờng B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi tạm trú: A khu phố B, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Vũ Bích Ly L trình bày:

Bà Vũ Bích Ly L và ông Lê Trọng N tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2008, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Bình Phƣớc, đƣợc cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 01/08 ngày 18/02/2008.

Quá trình chung sống của vợ chồng bà Vũ Bích Ly L thời gian đầu hạnh phúc, có 03 ngƣời con chung tên Lê Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 18/12/2007, con chung tên Lê Trọng N1, sinh ngày 13/7/2010 và con chung tên Lê Quốc H, sinh ngày 18/4/2013.

Sau đó, bà L và ông N bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống bất đồng, hay cãi nhau nên cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, hai vợ chồng không tìm đƣợc tiếng nói chung. Quá trình chung sống cùng ông Lê Trọng N thì bà L không nhận đƣợc sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ trong mọi công việc trong gia đình, ngoài ra ông Lê Trọng N không phụ giúp chăm sóc cho các con, không lo kinh tế gia đình, không quan tâm đến cuộc sống gia đình cùng bà L mặc dù đã nhiều lần gọi điện liên lạc nhƣng không nói chuyện đƣợc. Do không sống chung đƣợc nữa nên bà L và ông N đã sống riêng từ năm 2014 đến nay, cả hai không có biện pháp gì hòa giải với nhau, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa.

Bà L xác định đời sống chung với ông Lê Trọng N không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên yêu cầu tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Bích Ly L yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Lê Trọng N.

Về con chung: Bà L yêu cầu đƣợc chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con chung tên Lê Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 18/12/2007, con chung tên Lê Trọng N1, sinh ngày 13/7/2010 và con chung tên Lê Quốc H, sinh ngày 18/4/2013, không yêu cầu ông Lê Trọng N cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do điều kiện công việc bận không tham gia phiên tòa đƣợc nên bà Vũ Bích Ly L yêu cầu đƣợc xét xử vắng mặt.

Quá trình tố tụng, bị đơn ông Lê Trọng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt và không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình về yều cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt.

Vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thƣ ký Tòa án: Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ trong quá trình tố tụng nhƣng vắng mặt không rõ lý do, không đến tham gia phiên tòa xem nhƣ từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử nhƣ sau: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Vũ Bích Ly L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Lê Trọng N đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt không rõ lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu đƣợc ly hôn và yêu cầu giải quyết về con chung nên quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ đơn khởi kiện, biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An tại Công an phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng cung cấp thể hiện bị đơn ông Lê Trọng N hiện đang sinh sống và có đăng ký tạm trú tại A khu phố B, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Bích Ly L và ông Lê Trọng N xác lập mối quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn đƣợc Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Bình Phƣớc cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 01/08 ngày 18/02/2008 nên là hôn nhân hợp pháp.

Bà Vũ Bích Ly L khởi kiện yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Lê Trọng N với lý do: Vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung thƣờng xuyên cãi nhau nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, quá trình chung sống cùng ông Lê Trọng N thì bà L không nhận đƣợc sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ trong mọi công việc gia đình nhƣ: Chăm sóc con chung, kinh tế gia đình, bà L đã nhiều lần gọi điện liên lạc nhƣng không nói chuyện đƣợc. Hiện vợ chồng đã sống riêng từ năm 2014 đến nay, cả hai không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ngƣời vợ và ngƣời chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng quan điểm trong quan hệ vợ chồng thì ngƣời vợ và ngƣời chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp của vợ chồng. Nhƣng quan hệ hôn nhân giữa bà Vũ Bích Ly L và ông Lê Trọng N không đạt đƣợc các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do tình trạng hôn nhân của bà Vũ Bích Ly L và ông Lê Trọng N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Bích Ly L về việc ly hôn với ông Lê Trọng N.

Về con chung: Bà Vũ Bích Ly L yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục 03 ngƣời con chung tên Lê Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 18/12/2007, con chung tên Lê Trọng N1, sinh ngày 13/7/2010 và con chung tên Lê Quốc H, sinh ngày 18/4/2013. Xét thấy, từ thời điểm ông N và bà L sống riêng, các con chung vẫn chúng sống cùng bà L và đƣợc bà L chăm sóc tốt, đồng thời các con chung có ý kiến và nguyện vọng đƣợc sống cùng mẹ là bà Vũ Bích Ly L. Quá trình tố tụng, ông N đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt không rõ lý do xem nhƣ từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, bà Vũ Bích Ly L yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục là có cơ sở, phù hợp pháp luật, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con.

Về cấp dƣỡng nuôi con: Bà Vũ Bích Ly L không yêu cầu ông Lê Trọng N phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung sau khi ly hôn. Xét đây là ý chí tự nguyện của bà L nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Vũ Bích Ly L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Bích Ly L.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

- Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Bích Ly L đối với ông Lê Trọng N về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Bích Ly L đƣợc ly hôn với ông Lê Trọng N.

- Về con chung: Giao 03 ngƣời con chung tên Lê Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 18/12/2007, Lê Trọng N1, sinh ngày 13/7/2010 và Lê Quốc H, sinh ngày 18/4/2013 cho bà Vũ Bích Ly L trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục.

- Về cấp dƣỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Vũ Bích Ly L không yêu cầu ông Lê Trọng N phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, ngƣời không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đƣợc cản trở. Ngƣời không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hƣởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con thì ngƣời trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ngƣời đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dƣỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Nguyên đơn bà Vũ Bích Ly L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, đƣợc khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000631 ngày 10/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ