- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Thương Mại Cổ phần SGTT với ông Võ Trí N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT đốivới ông Võ Trí N vềviệc “Tranhchấphợpđồngtíndụng”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN N DÂN HUYỆN BĐ, TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2025/DS-ST Ngày: 22/5/2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
N DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN N DÂN HUYỆN BĐ, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phi.
Các Hội thẩm N dân:
1. Ông Đặng H Mích.
2. Ông Lê Văn Đạo.
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên Tòa: Ông Võ Thành Trung - Thư ký Tòa án N dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát N dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Loan.
Trong ngày 22 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án N dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 439/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 79/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng Thƣơng Mại Cổ phần SGTT.
Địa chỉ: Số 266 -268, Đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường VTS, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần SGTT: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1979, chức vụ: Trưởng phòng giao dịch BĐ, địa chỉ số: 159C, khu phố 3, thị trấn BĐ, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre (Ông H có mặt).
* Bị đơn: Ông Võ Trí N, sinh năm 1993 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Vinh Châu, xã VQT, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 30/8/2024, lời khai trong quá trình tố tụng, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Nguyễn Văn H trình bày:
Ngày 11 tháng 6 năm 2020, ông Võ Trí N có ký hợp đồng tín dụng số xxxxxxxxxxxx với ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tin - CN Bến Tre - PGD BĐ. Qua xác minh thực tế nhu cầu sử dụng vốn và tình hình kinh tế của khách hàng, Ngân hàng TMCP SGTT - CN Bến Tre PGD BĐ đã đồng ý cho ông Võ Trị N vay 1.700.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm triệu đồng), mục đích sử dụng vốn hoàn vốn chuyển nhượng bất động sản, Lãi suất: 12%/năm, Thời gian vay: 20 năm, Phương thức trả: Nợ gốc được chia thành nhiều kỳ trả nợ và được trả theo Phụ lục về lịch trả nợ.
Trong quá trình thanh toán từ ngày 15/06/2020 đến ngày 22/02/2024, ông Võ Trí N vẫn thanh toán tốt cho ngân hàng với số vốn và lãi đã trả là: 1.916.313.347 đồng (Một tỷ chín trăm mười sáu triệu ba trăm mười ba nghìn ba trăm bốn mươi bảy đồng). Trong đó: Vốn đã trả 1.210.000.000 đồng; Lãi đã trả: 706.313.347 đồng.
Tuy nhiên, kể từ ngày 10/03/2024, ông Võ Trí N không thực hiện thanh toán như trong hợp đồng dẫn đến khoản vay bị quá hạn.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Nguyễn Văn H vẫn giữ nguyên quan điểm tại đơn khởi kiện ngày 30/8/2024, cụ thể yêu cầu Hội đồng xét xử buộc ông Võ Trí N phải có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ phần SGTT tổng số tiền là 557.526.997 đồng (Năm trăm năm mươi bảy triệu năm trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm chín mươi bảy đồng). Trong đó, vốn gốc là 490.000.000 đồng, lãi trong hạn là 64.193.795 đồng, lãi quá hạn là 3.333.202 đồng, với tổng số ngày quá hạn là 376 ngày. Ngoài ra, bị đơn Võ Trí N phải tiếp tục chịu trả lãi từ ngày 22/5/2025 trên số tiền vốn gốc theo hợp đồng tín dụng mà ông N đã ký kết với ngân hàng cho đến khi thanh toán hoàn tất nợ cho ngân hàng.
2. Trường hợp ông Võ Trí N không trả, trả nợ không đầy đủ, ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản số 202025452558.1 ngày 11/06/2020 mà ông Võ Trí N đã ký để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ đối với Hợp đồng tín dụng số xxxxxxxxxxxx ngày 11/06/2020. Yêu cầu phát mại phần đất thế chấp thuộc thửa đất số 64, tờ bản đồ số 28, diện tích 4.999,3 m2, tọa lạc tại xã Thới Lai, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre do ông Võ Trí N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thu hồi toàn bộ số nợ cho ngân hàng.
* Trong suốt quá trình tố tụng, Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác tại nơi đăng ký thường trú của bị đơn Võ Trí N, tuy nhiên, bị đơn Võ Trí N vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ có liên quan cho Tòa án.
* Ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát N dân huyện BĐ về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:
Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án. Các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn Võ Trí N vắng mặt tại phiên tòa là không thực hiện theo quy định tại khoản 16 Điều Điều 70, của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Căn cứ vào các điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015: Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
- Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT.
Buộc ông Võ Trí N phải có nghĩa vụ thanh toán một lần cho Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT (Do Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT – Chi nhánh Bến Tre – Phòng giao dịch BĐ nhận thay) số tiền 557.526.997 đồng (Năm trăm năm mươi bảy triệu năm trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm chín mươi bảy đồng). Trong đó, vốn gốc là 490.000.000 đồng, lãi trong hạn là 64.193.795 đồng, lãi quá hạn là 3.333.202 đồng. Ngoài ra, bị đơn Võ Trí N phải tiếp tục chịu lãi từ ngày 22/5/2025 trên số tiền vốn gốc theo hợp đồng tín dụng mà ông N đã ký kết với ngân hàng cho đến khi thanh toán hoàn tất nợ cho ngân hàng.
Trường hợp ông Võ Trí N không trả, trả nợ không đầy đủ. Đề nghị tuyên xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản số 202025452558.1 ngày 11/06/2020 để phát mại phần đất thuộc thửa đất số 64, tờ bản đồ số 28, diện tích 4.999,3 m2, tọa lạc tại xã Thới Lai, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre do ông Võ Trí N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thu hồi toàn bộ số nợ cho ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn Võ Trí N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng ông N vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án
Ngày 11 tháng 6 năm 2020, ông Võ Trí N có ký hợp đồng tín dụng số xxxxxxxxxxxx với ngân hàng TMCP SGTT – Chi nhánh Bến Tre, phòng giao dịch BĐ. Qua xác minh thực tế nhu cầu sử dụng vốn và tình hình kinh tế của khách hàng, Ngân hàng TMCP SGTT – Chi nhánh Bến Tre, phòng giao dịch BĐ đã đồng ý cho ông Võ Trị N vay 1.700.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm triệu đồng), lãi suất: 12%/năm, nợ gốc được chia thành nhiều kỳ trả nợ theo phụ lục.
Trong quá trình thanh toán từ ngày 15/06/2020 đến ngày 22/02/2024, ông Võ Trí N vẫn thanh toán tốt cho ngân hàng với số vốn và lãi đã trả là: 1.916.313.347 đồng (Một tý chín trăm mười sáu triệu ba trăm mười ba nghìn ba trăm bảy mươi bốn đồng). Tuy nhiên, kể từ ngày 10/3/2024, bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay với ngân hàng, dẫn đến khoản vay bị quá hạn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Bị đơn Võ Trí N đã được tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng ông N từ chối tham gia tố tụng, tự từ bỏ quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trước tòa án, không cung cấp lời khai cũng như tài liệu, chứng cứ chứng minh đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng Thương Mại Cổ phần SGTT khởi kiện yêu cầu bị đơn Võ Trí N phải có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 557.526.997 đồng (Năm trăm năm mươi bảy triệu năm trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm chín mươi bảy đồng). Trong đó, vốn gốc là 490.000.000 đồng, lãi trong hạn là 64.193.795 đồng, lãi quá hạn là 3.333.202 đồng là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, bị đơn Võ Trí N phải tiếp tục chịu trả lãi từ ngày 22/5/2025 trên số tiền vốn gốc theo hợp đồng tín dụng mà ông N đã ký kết với ngân hàng cho đến khi thanh toán hoàn tất nợ cho ngân hàng.
Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.
Để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đối với khoản vay theo hợp đồng tín dụng số xxxxxxxxxxxx ngày 11/6/2020, bên bị đơn Võ Trí N đã ký kết với ngân hàng hợp đồng thế chấp tài sản số 202025452558.1 ngày 11/06/2020. Hợp đồng thế chấp đã được chứng thực tại Ủy ban N dân xã Thới Lai, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre. Do đó, trường hợp bị đơn Võ Trí N không trả nợ, trả nợ không đầy đủ cho ngân hàng đối với số tiền 557.526.997 đồng (Năm trăm năm mươi bảy triệu năm trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm chín mươi bảy đồng) và tiền lãi phát sinh. Ngân hàng TMCP SGTT - Chi nhánh Bến Tre - Phòng giao dịch BĐ được quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 64, tờ bản đồ số 28, diện tích 4.999,3 m2, tọa lạc tại xã Thới Lai, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre, do ông Võ Trí N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 299, 304 Bộ luật dân sự để thu hồi toàn bộ số nợ cho ngân hàng.
Đối với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện Kiểm sát N dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre là phù hợp với quy định của pháp luật, cũng như nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí:
Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP SGTT được chấp nhận nên bịđơn Võ Trí N phảichịu ánphítheoquy địnhcủaphápluật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Các điều 299, 304, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Các điều 26, 35, 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, 228; của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT đốivới ông Võ Trí N vềviệc “Tranhchấphợpđồngtíndụng”.
Buộc ông Võ Trí N phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Bến Tre, Phòng giao dịch BĐ nhận thay) số tiền vay còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng số xxxxxxxxxxxx ngày 11/6/2020 là 557.526.997 đồng (Năm trăm năm mươi bảy triệu năm trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm chín mươi bảy đồng). Trong đó, vốn gốc là 490.000.000 đồng, lãi trong hạn là 64.193.795 đồng, lãi quá hạn là 3.333.202 đồng. Đồng thời, ông Võ Trí N còn phải tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng số: xxxxxxxxxxxx ngày 11/6/2020, kể từ ngày 22/5/2025 trên số tiền vốn gốc 490.000.000 đồng (Bốn trăm chín mươi triệu đồng cho đến khi thanh toán hoàn tất nợ cho ngân hàng.
2. Về xử lý tài sản thế chấp.
Sau khi bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, bị đơn Võ Trí N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho ngân hàng, Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện BĐ, tỉnh Bến Tre phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 64, tờ bản đồ số 28, diện tích 999,3 m2, tọa lạc tại xã Thới Lai, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre do ông Võ Trí N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 299, 304 Bộ luật dân sự để thu hồi toàn bộ số nợ cho ngân hàng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Ông Võ Trí N phải chịu 26.301.0000 đồng (Hai mươi sáu triệu ba trăm lẻ một nghìn đồng).
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương Mại Cổ phần SGTT (Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Bến Tre, Phòng giao dịch BĐ nhận thay) số tiền tạm ứng án phí mà ngân hàng đã nộp là 12.017.740 đồng (Mười hai triệu không trăm mười bảy nghìn bảy trăm bốn mươi đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006812 ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ phần SGTT, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn Võ Trí N vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (phòng TT, KT &THA); THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - VKSND huyện BĐ; - Chi cục THADS huyện BĐ; - UBND xã VQT; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Đã ký) Nguyễn Đăng Phi |