vanban.org

Bản án 78/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam.

Buộc bà Đỗ Quỳnh M và ông Phan Trung H có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam số tiền vốn và lãi tính đến ngày 28/03/2025 là 473.038.123 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm bảy mươi ba triệu, không trăm ba mươi tám nghìn, một trăm hai mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc là 286.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Hàng Hải - Mơ, Hiếu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2025/DS-ST
Ngày 28-3-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Kim Kết

Ông Trần Ngọc Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Chinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 28 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 32/2025/TLST-DS ngày 21 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt N.

Địa chỉ trụ sở: 54A N, phường L, quận Đ, thành phố H ..

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng Linh, Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt N.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Đức Quang - Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng Quản lý Tín dụng - MSB

Người được ủy quyền lại của ông Bùi Đức Quang: Ông Nguyễn Công Trương, sinh năm 1999 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: 112A3, Trần Phú, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Bà Đỗ Quỳnh M (vắng mặt).

Địa chỉ: 52 ấ, xã Q, huyện Đ, tỉnh C ..

Ông Phan Trung H (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh H ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt N Chi nhánh Cà Mau đã ký với bà Đỗ Quỳnh M các hợp đồng sau:

Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày 03/03/2022, số tiền vay 40.000.000 đồng, mục đích sử dụng tín dụng cá nhân, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất 42%/năm, lãi suất quá hạn 145% lãi trong hạn.

Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01725/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3161187 ngày 07/03/2022, số tiền vay 250.000.000 đồng, mục đích: Phục vụ đời sống, nhu cầu chi tiêu cá nhân, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất trong hạn, lãi suất vay áp dụng kể từ ngày cấp HMTC cho đến ngày7/04/2022 là 18%/năm, lãi suất quá hạn: Khoản nợ gốc quá hạn phải chịu lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất thấu chi trong hạn đang áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả. Đối với khoản lãi tính trên nợ gốc mà đến hạn chưa trả, khách hàng phải chịu mức lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Đỗ Quỳnh M và ông Phan Trung H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo thỏa thuận tại các hợp đồng cho vay đã ký kết.

Tính đến hết ngày 28/03/2025, bà Đỗ Quỳnh M và ông Phan Trung H còn nợ Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt N số tiền là 473.038.123 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm bảy mươi ba triệu, không trăm ba mươi tám nghìn, một trăm hai mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc là 286.719.185 đồng, nợ lãi là 45.415.483 đồng, lãi quá hạn là 140.903.455 đồng.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu buộc bà Đỗ Quỳnh M và ông Phan Trung H phải trả cho Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt N toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 28/03/2025 là 473.038.123 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm bảy mươi ba triệu, không trăm ba mươi tám nghìn, một trăm hai mươi ba đồng).

Kể từ ngày 29/03/2025, bà Đỗ Quỳnh M và ông Phan Trung H còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ngày

03/03/2022

và

hợp

đồng

tín

dụng

hạn

mức

số 01725/HĐTD/2022/HĐTCHM/RB/3161187 ngày 07/03/2022 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nhưng bị đơn không có ý kiến gì và không tham gia hòa giải, xét xử tại Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Đỗ Quỳnh M và ông Phan Trung H đã được Tòa án triệu tập tham gia xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, do đó Hội đồng xét xử xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà M, ông H là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng và hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng với bà M và ông H trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nêu trên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà M và ông H đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo cam kết dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở. Tạm tính đến ngày 28/03/2025, bà Đỗ Quỳnh M và ông Phan Trung H còn nợ Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt N số tiền là 473.038.123 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho bà M, ông H biết về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, nhưng bà M, ông H không có ý kiến phản đối hay yêu cầu nào khác. Do đó, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nay bà M, ông H vi phạm các nghĩa vụ trả nợ như cam kết trong các hợp đồng nên cần buộc bà M và ông H phải trả số tiền còn nợ nêu trên cho Ngân hàng là phù hợp với Điều 463, 466 Bộ luật dân sự và điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng.

Về lãi suất: Đối với khoản tiền lãi mà Ngân hàng tạm tính đến ngày 28/3/2025 thấy rằng, bà M và ông H vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng đã chuyển khoản nợ trên thành nợ quá hạn và buộc phải trả lãi theo hợp đồng. Việc Ngân hàng áp dụng mức lãi suất và đề nghị bị đơn phải trả là phù hợp với quy định về lãi suất và lãi suất quá hạn của hợp đồng, phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.

Về lãi suất tiếp tục, Ngân hàng yêu cầu tính kể từ ngày 29/3/2025 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi bà M và ông H thanh toán xong khoản nợ. Yêu cầu này của Ngân hàng phù hợp Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nên được chấp nhận.

Mặc dù hợp đồng tín dụng và hợp đồng thẻ tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng với bà Đỗ Quỳnh M nhưng tại văn bản đồng thuận về việc vay vốn và cùng trả nợ cho Ngân hàng, ông H và bà M thống nhất cử bà M thực hiện các thủ tục vay vốn tại Ngân hàng, trường hợp bà M không trả được nợ cho Ngân hàng đúng quy định thì ông H cam kết có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo đúng thỏa thuận với Ngân hàng. Do đó buộc ông H có nghĩa vụ liên đới cùng với bà M trả nợ cho Ngân hàng là phù hợp.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà M và ông H phải chịu số tiền là 22.922.000 đồng. Ngân hàng không phải chịu án phí, số tiền tạm ứng đã nộp được hoàn trả.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các điều 299, 463, 466 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam.

Buộc bà Đỗ Quỳnh M và ông Phan Trung H có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam số tiền vốn và lãi tính đến ngày 28/03/2025 là 473.038.123 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm bảy mươi ba triệu, không trăm ba mươi tám nghìn, một trăm hai mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc là 286.719.185 đồng, nợ lãi là 45.415.483 đồng, lãi quá hạn là 140.903.455 đồng.

Ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng và hợp đồng tín dụng tính đến ngày 28/3/2025, thì kể từ ngày tiếp theo là ngày 29/3/2025 khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Đỗ Quỳnh M và ông Phan Trung H phải chịu 22.922.000 đồng (chưa nộp).

Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam không phải chịu. Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam đã nộp tạm ứng số tiền là 8.237.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002513 ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được nhận lại.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

THÀNH VIÊN

THẨM PHÁN –

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Kết

Trần Ngọc Chi

Lâm Ngọc Trâm

Cỡ chữ