vanban.org

Bản án 78/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 26/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Tịch thu và tiêu huỷ: 01 phong bì dán kín của Phòng KỸ THUẬT HÌNH SỰ-Công an Thành phố Thành phố Hà Nội, tại các mép dán có các chữ ký của giám định viên Phạm Trần N, cán bộ Công an Phạm Duy K, đối tượng Nguyễn Anh D (bên trong có ma túy Hêroin). Trả lại Nguyễn Anh D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh D tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HS-ST
Ngày: 26/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi; ông Nguyễn Hữu Trọng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2024/TLST-HS ngày 03/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HS ngày 12/6/2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN ANH D, sinh năm 1981; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT: Tổ I, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Tổ F, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Vi P, con bà Nguyễn Thị T; Vợ, con: Chưa; Danh chỉ bản số 218 lập ngày 27/3/2024 tại Công an huyện C. Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Tại Bản án số 86/2000/HSST ngày 19/9/2000, TAND thị xã Hà Đông xử phạt 24 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản và 9 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản. Buộc D phải chấp hành chung cho cả hai tội là 33 tháng tù. Ngày 24/02/2004, chấp hành xong hình phạt tù; đã nộp án phí hình sự ngày 13/3/2001 (đã xóa án tích).

- Tại Bản án số 07/2001/HSST ngày 10/01/2001, TAND thị xã Hà Đông xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, cộng với 33 tháng tù của Bản án số 86/HSST ngày 19/9/2000 buộc D phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 48 tháng tù. Ngày 24/02/2004, chấp hành xong hình phạt tù; đã nộp án phí hình sự ngày 13/3/2001(đã xóa án tích).

- Tại Bản án số 93/2004/HSST ngày 20/10/2004, TAND thị xã Hà Đông xử phạt 12 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Ngày 30/6/2005, chấp hành xong hình phạt tù; đã nộp án phí hình sự ngày 31/7/2007 (đã xóa án tích).

- Tại Bản án số 126/2006/HSST ngày 16/8/2006, TAND thị xã Hà Đông xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 24/8/2008, chấp hành xong hình phạt tù; đã nộp án phí hình sự tháng 6/2007 (đã xóa án tích).

- Tại Bản án số 107/2009/HSST ngày 10/3/2009, TAND thành phố Hà Đông xử phạt 42 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 26/9/2012, chấp hành xong hình phạt tù; đã nộp án phí hình sự ngày 13/5/2009 (đã xóa án tích).

- Tại Bản án số 175/2013/HSST ngày 31/7/2013, TAND quận Hà Đông xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 01/10/2020, chấp hành xong hình phạt tù; đã nộp án phí hình sự ngày 10/10/2013 (đã xóa án tích).

Bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 –Công an Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 19/3/2024, Công an thị trấn C thuộc Công an huyện C, Thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực TDP Đ, thị trấn C, phát hiện một đối tượng nam giới có biểu hiện nghi vấn phạm tội nên đã kiểm tra hành chính. Đối tượng tự khai nhận, họ tên: Nguyễn Anh D, sinh năm 1981, trú tại: phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Quá trình kiểm tra, Công an thị trấn C đã phát hiện trên tay trái của D cầm một gói giấy bạc, kích thước (1x1)cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy. D khai nhận là ma túy loại Heroine, D cất giấu để sử dụng. Công an thị trấn C tiến hành lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.

Vật chứng thu giữ:

- 01 gói nhỏ bằng giấy bạc, kích thước (1x1)cm bên trong có chứa các chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroine.

- 01 chiếc điện thoại di động màu đen nhãn hiệu PHILIPS đã qua sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 2221/KL-KTHS ngày 28/3/2024 của Phòng KỸ THUẬT HÌNH SỰ - Công an Thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 0,162 gam”;

Đối với nguồn gốc số ma tuý, Nguyễn Anh D khai nhận đã mua của một người nam giới không rõ tên tuổi, địa chỉ tại khu vực đường sắt thuộc phường Y, quận H, Thành phố Hà Nội nên CQĐT không có căn cứ để tiến hành điều tra, xác minh xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Nguyễn Anh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi của mình như nội dung vụ án đã nêu, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình: mẹ già sống một mình, bị cáo bị tai nạn giao thông gẫy chân vẫn đang phải dùng lạng chống nên sức khoẻ yếu, khó khăn trong việc đi lại để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị: Tuyên bố D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: D từ 20 tháng tù đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý đã thu giữ, trả lại điện thoại di động cho bị cáo do không liên quan đến việc phạm tội. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện C,Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ và của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 19/3/2024, tại TDP Đ, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Anh D đã có hành vi cất giấu trái phép 01 gói ma túy loại Heroine khối lượng 0,162 gam để sử dụng thì bị Công an thị trấn C kiểm tra hành chính phát hiện và bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Bị cáo nhận thức rõ việc sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình cất giấu ma túy để sử dụng. Bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy đã lâu, nhân thân xấu, đã bị xét xử nhiều tội trong đó có tội phạm ma túy nhưng bị cáo vẫn không từ bỏ ma túy, tiếp tục mua ma túy để sử dụng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, sức khoẻ yếu để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

- 01 phong bì dán kín của Phòng KỸ THUẬT HÌNH SỰ- Công an Thành phố T1, tại các mép dán có các chữ ký của giám định viên Phạm Trần N, cán bộ Công an Phạm Duy K, đối tượng Nguyễn Anh D không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu PHILIPS vỏ màu đen đã qua sử dụng thu của Nguyễn Anh D không liên quan đến vụ án, trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Anh D: 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2024.

3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu huỷ: 01 phong bì dán kín của Phòng KỸ THUẬT HÌNH SỰ-Công an Thành phố Thành phố Hà Nội, tại các mép dán có các chữ ký của giám định viên Phạm Trần N, cán bộ Công an Phạm Duy K, đối tượng Nguyễn Anh D (bên trong có ma túy Hêroin).

- Trả lại Nguyễn Anh D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu PHILIPS, vỏ màu đen đã qua sử dụng.

(Số vật chứng, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2024, hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ).

4. Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Anh D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ