- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18/3/2024 V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Lê Hiếu Xuyên;
2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 549/2023/TLST-HNGĐ ngày 21/11/2023 về việc: “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/02/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 55/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/02/2024 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1988 (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)
HKTT: Tổ 03, ấp Hòa Tây B, xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Địa chỉ tạm trú: Ấp An Phong, xã Định Yên, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Số điện thoại: xxxxxxxxxx
2/ Bị đơn: Anh Phùng Đoàn K, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 03, ấp Hòa Tây B, xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Số điện thoại: xxxxxxxxxx
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày: Chị Phạm Thị H với anh Phùng Đoàn K do tự tìm hiểu nên tiến tới chung sống với nhau từ năm 2004, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang vào ngày 30/01/2007. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh K có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác và có những hành vi bạo lực gia đình (chửi mắng, đánh đập) nhiều lần với chị, dù chị đã cho anh K cơ hội rất nhiều lần nhưng anh K vẫn không thay đổi. Do không chịu đựng được nưa nên cũng trong thời gian đó chị bỏ về nhà cha mẹ ruột sống, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay.
Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phùng Đoàn K. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Phùng Đoàn Tuấn Đạt, sinh ngày 19/6/2007, Phùng Đoàn Thành Phát, sinh ngày 04/4/2011 và Phùng Đoàn Cao Tiến, sinh ngày 01/5/2018 (hiện 03 con đang sống với mẹ). Sau khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 03 con chung, không yêu cầu anh K cấp dưỡng. Về quan hệ tài sản: Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có.
Đối với bị đơn anh Phùng Đoàn K: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Phùng Đoàn K nhưng anh K đã vắng mặt không lý do nên không có lời khai của anh K.
Nguyện vọng của con chung: Tại biên bản ghi nhận ý kiến của người chưa thành niên cháu Phùng Đoàn Tuấn Đạt, sinh ngày 19/6/2007 và Phùng Đoàn Thành Phát, sinh ngày 04/4/2011 đều có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ.
Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của chị H, anh K tại biên bản lấy lời khai ngày 12/01/2024 của người làm chứng chị Phạm Thị Bé Thảo (em gái ruột của chị H) thể hiện: “…Chị H với anh K trước đây do tự tìm hiểu mới tiến tới chung sống, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới thì Hồng về ở nhà mẹ chồng. Sau này vợ chồng mới ra ở riêng, hai vợ chồng làm nghề nuôi vịt thả đồng. Anh K có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác từ đó vợ chồng hay cự cãi, anh K thường xuyên chửi bới chị H, nếu không có người thân của chị thì anh K đánh chị. Tôi thấy từ năm 2021, chị H và anh K không sống chung nữa. 03 đứa con đều do chị H nuôi, anh K không thăm nom, chu cấp gì cho các con, một mình chị H phải nuôi con rất vất vả. Gia đình cũng có khuyên vợ chồng chị H anh K hàn gắn nhưng không được…”.
Tại phiên tòa: Chị Phạm Thị H vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phùng Đoàn K vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Về cơ bản vụ án đã được tiến hành đúng theo trình tự pháp luật quy định, đã xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân, có đủ cơ sở đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Chị H được ly hôn với anh K. Về con chung: Giao có 03 con chung tên Phùng Đoàn Tuấn Đạt, sinh ngày 19/6/2007, Phùng Đoàn Thành Phát, sinh ngày 04/4/2011 và Phùng Đoàn Cao Tiến, sinh ngày 01/5/2018 cho chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Về án phí: Chị H yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX) nhận định:
Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con; Bị đơn anh Phùng Đoàn K cư trú tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa, anh K vẫn vắng mặt không có lý do là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự; Chị Phạm Thị H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H chung sống với anh Phùng Đoàn K có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang ngày 30/01/2007. Do vậy, căn cứ vào Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của chị H, anh K phù hợp với lời khai của chị H về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, cụ thể: Thời gian đầu vợ chồng chị H và anh K chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không còn tin tưởng nhau, anh K thường xuyên có những hành vi bạo lực gia đình (chửi mắng, đánh đập) với chị H. Mâu thuẫn kéo dài mặc dù chị H đã cho anh K nhiều cơ hội sửa đổi nhưng vẫn không đạt kết quả, vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm nhau.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh K không đến Tòa để tham dự các phiên hòa giải cũng như xét xử, không gửi tờ tự khai thể hiện ý kiến của mình là mặc nhiên thừa nhận có sự mâu thuẫn giữa vợ chồng và không có ý muốn hàn gắn. Do đó chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn là có cơ sở.
Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh K đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh K.
Về con chung: Qua chứng cứ chị Phạm Thị H cung cấp cũng như kết quả xác minh tình trạng hôn nhân thì chị Phạm Thị H và anh Phùng Đoàn K có 03 con chung tên Phùng Đoàn Tuấn Đạt, sinh ngày 19/6/2007, Phùng Đoàn Thành Phát, sinh ngày 04/4/2011 và Phùng Đoàn Cao Tiến, sinh ngày 01/5/2018 hiện 03 con đang sống với mẹ. Nhận thấy cháu Đạt và cháu Phát có nguyện vọng được sống với mẹ, chị H đủ điều kiện trực tiếp nuôi 03 con chung và cũng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đạt, cháu Phát và cháu Tiến. Trong quá trình giải quyết vụ án anh K không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị H về con chung. Do vậy, HĐXX áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, giao 03 con chung tên Phùng Đoàn Tuấn Đạt, sinh ngày 19/6/2007, Phùng Đoàn Thành Phát, sinh ngày 04/4/2011 và Phùng Đoàn Cao Tiến, sinh ngày 01/5/2018 cho chị Phạm Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi 03 cháu thành niên (đủ 18 tuổi), tự lao động được là phù hợp và đảm bảo được các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, việc học tập, môi trường sống của 03 cháu; Chị H phải tạo điều kiện cho anh K được quyền đến thăm nom, chăm sóc các con chung, không ai được cản trở; Khi cần thiết anh K có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H trình bày không có nên HĐXX không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.
Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Phùng Đoàn K.
2. Về quan hệ con chung: Chị Phạm Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng ba (03) con chung tên Phùng Đoàn Tuấn Đạt, sinh ngày 19/6/2007, Phùng Đoàn Thành Phát, sinh ngày 04/4/2011 và Phùng Đoàn Cao Tiến, sinh ngày 01/5/2018; Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con chung nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Phùng Đoàn K do chị Phạm Thị H không yêu cầu. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về tài sản chung và nợ chung:
- Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Phạm Thị H trình bày tự thỏa thuận nên không đặt ra giải quyết.
- Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Phạm Thị H trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Phạm Thị H và anh Phùng Đoàn K phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
5. Về án phí sơ thẩm: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0013341 ngày 21/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Như vậy, chị H đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm. Anh Phùng Đoàn K không phải chịu án phí.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Thoại Sơn;p - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn; - UBND xã Phú Thuận, h. Thoại Sơn; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Cẩm Xuyên |