vanban.org

Bản án 78/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Hồ Thị Kiều T được ly hôn với ông Trịnh Minh Th.

Ghi nhận việc bà Hồ Thị Kiều T không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn. Về con chung: Giao cho bà Hồ Thị Kiều T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng người con chung của bà với ông Trịnh Minh Th là cháu Trịnh Ngọc Khánh B, sinh ngày 26/5/2023. Ghi nhận việc bà T không yê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Hồ Thị Kiều Tiên xin ly hôn với ông Trịnh MInh Thành"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Hồ Thị Kiều T được ly hôn với ông Trịnh Minh Th.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CL
TỈNH BT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22/03/2024
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL, TỈNH BT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hữu Nghị;

Ông Nguyễn Văn Hơn.

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh BT.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL, tỉnh BT tham gia phiên toà: bà Huỳnh Thanh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 03 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh BT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 321/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Hồ Thị Kiều T - sinh năm: 1993; địa chỉ: ấp C, xã PPh, huyện CL, tỉnh BT. có mặt.

Bị đơn: ông Trịnh Minh Th - sinh năm: 1991; địa chỉ: ấp SP, xã SĐ, huyện CL, tỉnh BT. vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/9/2023 và tại phiên tòa hôm nay (bà T) trình bày: Vào năm 2018 bà và ông Th sau thời gian tìm hiểu, không ai ép buộc, tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán truyền thống và đăng ký kết hôn tại UBND xã PPh vào ngày 11/06/2018. Thời gian chung sống hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Ông Th thường xuyên đi nhậu về chửi không lo vợ con. Từ đó, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc nữa, mỗi người có một cuộc sống riêng. Hiện tại bà T về sống với cha mẹ ruột tại xã PPh, còn ông Th thì sống tại xã SĐ, ông bà đã sống ly thân khá lâu mà không thể hàn gắn được. Nay bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách giải quyết cho bà được ly hôn với ông Th và không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

Về con chung: trong quá trình sống chung bà với ông Th có tạo ra 01 người con chung tên Trịnh Ngọc Khánh B, sinh ngày 26/5/2023 (hiện đang sống với bà T). Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông Th phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Còn đối với bị đơn là ông Th mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án cùng các chứng cứ kèm theo do nguyên đơn cung cấp; Thông báo về phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng ông Th vẫn cố tình vắng mặt và cũng không có ý kiến phản hồi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định tại Điều 203 Bộ Luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: căn cứ vào tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, cho thấy cuộc sống hôn nhân của bà T với ông Th đã có sự mâu thuẫn trầm trọng, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Tiên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ:

. Về tố tụng và quan hệ tranh chấp:

Hội đồng xét xử xét thấy, do mâu thuẫn giữa vợ chồng nên bà T có đơn yêu cầu xin ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Th nên đây là vụ kiện: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Th hiện đang cư trú tại ấp SP, xã SĐ, huyện CL, tỉnh BT nên Tòa án nhân dân huyện CL thụ lý vụ án giải quyết là đúng thẩm quyền.

Ông Trịnh Minh Th được Tòa triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông vẫn cố tình vắng mặt không lý do, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông theo qui định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Nội dung: Xét thấy, hôn nhân của bà T với ông Th là trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân không có sự ép buộc. Ông bà cũng đã đi đăng ký kết hôn theo đúng qui định của pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà T cho rằng về quan hệ hôn nhân của bà với ông Th đã có sự phát sinh mâu thuẩn, không thể hàn gắn được là có căn cứ. Bỡi lẽ, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời ông Th đến để tạo điều kiện hòa giải hàn gắn quan hệ hôn nhân của ông bà nhưng ông Th vẫn cố tình vắng mặt không lý do. Mặc khác, sau khi Tòa tống đạt thông báo thụ lý vụ án cũng như thông báo về việc Tòa đã công khai các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho ông nhưng ông vẫn không có văn bản phản hồi, chứng tỏ ông Th không quan tâm gì đến việc hôn nhân của ông bà. Điều đó càng chứng tỏ hôn nhân của ông bà đã có sự rạn nứt như bà T trình bày. Từ các căn cứ trên, xét thấy yêu cầu xin ly hôn của bà T là có cơ sở để chấp nhận theo qui định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tại phiên tòa, bà T cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên ghi nhận.

Về con chung: trong quá trình sống chung bà T với ông Th có tạo ra 01 người con chung tên Trịnh Ngọc Khánh B, sinh ngày 26/5/2023 (hiện đang sống với bà T). Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông Th phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện cháu B đã được bà T nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo. Bà T cũng có thu nhập ổn định và đảm bảo điều kiện nuôi con. Ông Th thì từ khi Tòa thụ lý giải quyết và tống đạt văn bản tố tụng cho ông, trong thông báo đã thể hiện rõ yêu cầu khởi kiện của bà T về con chung nhưng ông không có ý kiến phản hồi chứng tỏ ông chấp nhận yêu cầu của bà T. Hơn nữa, hiện tại cháu B vẫn còn nhỏ nên việc giao cháu cho mẹ chăm sóc là phù hợp với qui định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Từ các cơ sở trên xét thấy việc bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung của ông bà là có căn cứ nên chấp nhận. Ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản và nợ chung: bà T cho rằng giữa bà và ông Th không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa giải quyết còn về nợ chung không có. Trong quá trình giải quyết vụ kiện ông Th không có ý kiến phản hồi và cũng không có ai yêu cầu gì liên quan đến nợ chung giữa bà T với ông Th nên Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày của bà T là có căn cứ pháp lý nên ghi nhận.

Từ các căn cứ trên, xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với qui định của pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-BTVQH14 và điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự thì nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm không phụ thuộc vào việc Tòa chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, buộc nguyên đơn bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, 56, Điều 81, 82, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; các điều 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Hồ Thị Kiều T được ly hôn với ông Trịnh Minh Th.

Ghi nhận việc bà Hồ Thị Kiều T không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.

- Về con chung: Giao cho bà Hồ Thị Kiều T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng người con chung của bà với ông Trịnh Minh Th là cháu Trịnh Ngọc Khánh B, sinh ngày 26/5/2023. Ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom con mà không ai được cản trở họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con chung, bà T và ông Th có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức và phương thức cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp có căn cứ người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con, trên cơ sở lợi ích của con thì người thân thích, Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.

- Nợ chung: không có.

- Về án phí: Buộc bà Hồ Thị Kiều T phải nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân sơ thẩm. Số tiền bà T nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai số 0000048, ngày 12 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL, tỉnh BT được chuyển sang án phí.

- Về quyền kháng cáo: Bà Hồ Thị Kiều T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trịnh Minh Th được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

- Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo qui định của pháp luật.

- Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ