- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị S và Tạ Xuân T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị S đối với anh Tạ Xuân T. Chị Nguyễn Thị S được ly hôn với anh Tạ Xuân T.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09-8-2024 V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cái Thị Minh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Vân
2. Ông Thái Văn Lộc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà là thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh: Võ Minh Mẫn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 296/2024/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68C/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 53/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1986; Hộ khẩu thường trú: Số I đường T, KP H, P H, TP T, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện tại: Tổ A, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
- Anh Tạ Xuân T, sinh năm 1983; trú tại: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
Chi Sang vắng mặt có đơn xin vắng mặt, anh T vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 09 tháng 5 năm 2024 và các l i khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị S trình bày:
Chị và anh Tạ Xuân T chung sống vào năm 2010 có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, TP T, tỉnh Tây Ninh. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc bình thường, năm 2018 phát sinh mâu thuẩn do chồng chị anh T nợ nần nhiều, chị đã bán tài sản của vợ chồng trả nợ rất nhiều, nhưng nay anh T lại tái diễn gây nợ nữa, không lo làm ăn gây nợ làm khổ vợ con. Hiện cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong công việc và cuộc sống hàng ngày hay cãi nhau. Hiện vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm lẫn nhau, ai cũng có cuộc sống riêng cho mình nên chị S xin ly hôn với anh T.
Về con chung: Có 01 con chung tên Tạ Tấn T1, sinh ngày 09 tháng 10 năm 2011. Hiện cháu T1 đang sống với mẹ. Chị S xin nuôi con chung không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án anh Tạ Xuân T không đến Tòa, không có l i trình bày, vắng mặt không lý do.
Tại phiên toà:
Tại tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị tuyên:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị S đối với anh Tạ Xuân T.
Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Tạ Tấn T1, sinh ngày 09 tháng 10 năm 2011. Hiện cháu T1 đang sống với mẹ nên cần giao cháu T1 cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận chị S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung, chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị S phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị S có đơn xin vắng mặt. Anh T là bị đơn trong vụ án vắng mặt không lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và giấy triệu tập đương sự mời anh T lên Tòa làm việc nhưng anh không đến cũng như không có lời khai về vụ án, anh T biết việc Toà án đang giải quyết vụ án nhưng không nhận bất kỳ các văn bản của Toà án giao, Tòa án có tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị S và anh T là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị S và anh T chung sống vào năm 2010 có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, TP T, tỉnh Tây Ninh. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc bình thường, năm 2018 phát sinh mâu thuẩn do chồng chị anh T nợ nần nhiều, chị đã bán tài sản của vợ chồng trả nợ rất nhiều, nhưng nay anh T lại tái diễn gây nợ nữa, không lo làm ăn làm khổ vợ con. Hiện cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong công việc và cuộc sống hàng ngày hay cãi nhau. Hiện vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm lẫn nhau, ai cũng có cuộc sống riêng cho mình nên chị S xin ly hôn với anh T.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị S, Hội đồng xét xử thấy rằng, vợ chồng chung sống cần có sự gần nhau, chia sẻ, đồng cảm, quan tâm chăm sóc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau và cùng có trách nhiệm với gia đình, con cái. Trong mối quan hệ vợ chồng của chị S, anh T không còn sự chia sẻ và đồng cảm, không hiểu nhau, không còn tình cảm, không hạnh phúc, không sang sẻ trong cuộc sống vợ chồng được là gánh nặng của nhau. Hiện chị S, anh T không còn tình cảm với nhau, không thương yêu nhau nên yêu cầu xin ly hôn của chị S là có căn cứ chấp nhận.
Anh T không đến Tòa, không có lời trình bày, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa cho anh T, anh T biết nhưng anh không đến Tòa là từ bỏ quyền lợi và nghĩa vụ của mình, không muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với chị S nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
[3] Về con chung: Có 01 con chung tên Tạ Tấn T1, sinh ngày 09 tháng 10 năm 2011. Hiện cháu T1 đang sống với mẹ, chị S xin nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên ghi nhận
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hô i đồng xét xử không xem xét.
[5] Đối với đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Chị S phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 146, 147, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị S đối với anh Tạ Xuân T. Chị Nguyễn Thị S được ly hôn với anh Tạ Xuân T.
2. Về con chung: Giao con chung tên Tạ Tấn T1, sinh ngày 09 tháng 10 năm 2011 cho chị Nguyễn Thị S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Có sự đồng ý sống chung với mẹ của cháu T1. Ghi nhận chị S không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Anh T được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung. Chị S cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở.
3. Về tài sản chung; nợ chung: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị S đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009247 ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, chị S đã nộp đủ án phí.
“Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Châu Thành; - THA huyện Châu Thành; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Cái Thị Minh Tâm |