vanban.org

Bản án 78/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Thanh T.

Xác định anh Ngô Thanh T là cha đẻ của các cháu dự kiến đặt tên Ngô Vân A, sinh ngày 08/4/2018; Ngô Quỳnh C, sinh ngày 15/112/2019 và cháu Ngô Thanh T1, sinh ngày 16/01/2024. Án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha con"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Y
TỈNH H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2024/HNGĐ-ST
Ngày 22 tháng 7 năm 2024
“ V/v tranh chấp xác định cha con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nhiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thanh - Cán bộ hưu trí xã Y.

Bà Ngô Thị Thanh Tân - Giáo viên Trường Tiểu học Y I.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thuận - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Y.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Mai Thành - Kiểm sát viên. `

Trong ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2024/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp về xác nhận cha con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 19/2024/QĐST-HPT ngày 02 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Ngô Thanh T, sinh năm: 1988; HKTT và cư trú: Thôn T, xã Tr, huyện Y, tỉnh H. Có mặt

* Bị đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm: 1985; HKTT: Thôn 5, xã S, huyện H, tỉnh HT. Hiện tạm trú: Thôn T, xã Tr, huyện Y, tỉnh H. Có mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Dự kiến tên cháu Ngô Vân A, sinh ngày 08/4/2018;

2. Dự kiến tên cháu Ngô Quỳnh C, sinh ngày 15/12/2019;

3. Dự kiến tên cháu Ngô Thanh T1, sinh ngày 16/01/2024;

Người giám hộ cho các cháu dự kiến đặt tên A, C, T1: Chị Lê Thị H, sinh năm 1985; Có mặt

Đều có địa chỉ: Thôn T, xã Tr, huyện Y, tỉnh H. 3

4. Anh Trịnh Hồng L, sinh năm: 1966; HKTT: Thôn 5, xã S, huyện H, tỉnh HT. Vắng mặt

* Người làm chứng:

- Bà Hồ Thị Ph, sinh năm: 1934; Địa chỉ: Thôn 5, xã S, huyện H, tỉnh HT. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 20 tháng 5 năm 2024, bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn anh Ngô Thanh T trình bày: Anh quen biết chị Lê Thị H từ tháng 03 năm 2017, giữa anh và chị Lê Thị H có quan hệ tình cảm với nhau và đã có với nhau 3 con chung là các cháu dự kiến đặt tên Ngô Vân A, sinh ngày 08/4/2018; Ngô Quỳnh C, sinh ngày 15/112/2019 và cháu Ngô Thanh T1, sinh ngày 16/01/2024. Chị H có con với anh trong thời gian Chị H là vợ hợp pháp của anh Trịnh Hồng L và đang sống ly thân. Ngày 30/5/2024 Công ty TNHH đầu tư và công nghệ Genplus đã có kết luận giám định AND số 30T05/24/DNA kết luận dự kiến đặt tên cháu Ngô Vân A, cháu Ngô Quỳnh C, cháu Ngô Thanh T1 đều là con đẻ của anh. Nay anh có nguyện vọng nhận cha con với các cháu dự kiến đặt tên A, C, T1 để ghi nhận quan hệ huyết thống cũng như ghi tên anh là cha của các cháu trong giấy khai sinh theo Luật hộ tịch, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của cha con. Anh đề nghị Toà án xác định các cháu Ngô Vân A, Ngô Quỳnh C, Ngô Thanh T1 là con đẻ của anh.

Bị đơn chị Lê Thị H thống nhất với lời khai của anh T về thời gian quen biết nhau và thời gian quan hệ tình cảm: Chị H xác định trong thời gian chị và anh Trịnh Hồng L đang sống ly thân, thì chị có quan hệ tình cảm vợ chồng với anh T và có 03 con dự kiến đặt tên Ngô Vân A, sinh ngày 08/4/2018; Ngô Quỳnh C, sinh ngày 15/112/2019 và cháu Ngô Thanh T1, sinh ngày 16/01/2024. Ngày 30/5/2024 Công ty TNHH đầu tư và công nghệ Genplus đã có kết luận giám định AND số 30T05/24/DNA kết luận cháu Ngô Vân A, cháu Ngô Quỳnh C, cháu Ngô Thanh T1 đều là con đẻ của anh T. Nay anh T yêu cầu nhận cha con với các cháu A, C, T1, chị hoàn toàn nhất trí. Chị xác định để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các con và quan hệ huyết thống, chị đề nghị Toà án xác định các cháu Ngô Vân A, Ngô Quỳnh C, Ngô Thanh T1 là con đẻ của anh T.

Người làm chứng bà Hồ Thị Ph trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Trịnh Hồng L, là mẹ chồng của chị Lê Thị H. Năm 2011 Chị H và anh L đã sống ly thân nhau, từ đó cho đến nay, không ai quan tâm gì đến ai, cuộc sống ai biết người đó, Chị H bỏ đi nơi khác sống, Chị H đã có 03 con chung với anh T. Bà xác định các cháu dự kiến đặt tên Ngô Vân A, sinh ngày 08/4/2018; Ngô Quỳnh C, sinh ngày 15/112/2019 và cháu Ngô Thanh T1, sinh ngày 16/01/2024 không phải con của anh L. Anh L đã trao đổi với bà về việc Chị H có con riêng, anh không ý kiến gì. Hiện nay anh L đi làm ăn xa, bà xin nhận trách nhiệm nhận hộ anh L các văn bản tố tụng của Toà án và cam kết sẽ giao cho anh L.

Uỷ ban nhân dân xã Tr cung cấp: Chị Lê Thị H, sinh năm: 1985 hiện đang tạm trú tại Thôn T, xã Tr, huyện Y, tỉnh H. Giữa Chị H và anh T có con chung với nhau địa phương không nắm được, hiện Chị H và anh T không chung sống với nhau, anh T hiện chưa có vợ, việc anh T đề nghị Tòa án xác định cha con, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bản kết luận giám định AND số 30T05/24/DNA ngày 30/5/2024 của Công ty TNHH đầu tư và công nghệ Genplus đã có kết luận: Anh Ngô Thanh T có quan hệ huyết thống bố con với Ngô Vân A, Ngô Quỳnh C, Ngô Thanh T1 độ tin cậy 99,9999%.

Tại phiên tòa:

Anh T trình bày, hiện nay anh chưa có vợ con, năm 2017 anh có quen biết Chị H, lúc này Chị H và chồng đang sống ly thân nhau, do có quan hệ tình cảm với nhau nên anh và Chị H đã có con chung, tuy nhiên giữa anh và Chị H không hề chung sống với nhau, khi Chị H nói với anh 03 con của Chị H là con của anh, anh đã nhất trí để các con mang họ của mình, khi đi đăng ký khai sinh cho các cháu thì UBND xã giải thích vì Chị H và anh L chưa ly hôn nên không khai sinh được tên bố là anh, do vậy để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của anh và các cháu, anh đề nghị Toà án giải quyết xác định anh là cha đẻ của các cháu Ngô Vân A, Ngô Quỳnh C, Ngô Thanh T1.

Chị H trình bày: Chị và anh Trịnh Hồng L sống ly thân nhau từ năm 2011 đến nay, trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai, cuộc sống của ai biết người đó, đến năm 2017 chị về H làm công nhân và trọ tại thôn Tr, xã Tr, huyện Y, tỉnh H gần nhà anh T, biết anh T chưa có vợ nên chị cũng muốn có đứa con để sau này già có chỗ nương tựa, do vậy chị và anh T đã có quan hệ tình cảm dẫn đến chị có con, tuy nhiên sau này do muốn con được đăng ký khai sinh theo họ bố nên chị đã nói với anh T và anh T cũng nhất trí để các con của chị mang họ nhà anh T và đi khai sinh cho các cháu để thuận tiện cho việc đi học, tuy nhiên do chị và anh L chưa ly hôn nên các con của chị không thể khai sinh tên bố là anh T được, nay anh T đề nghị Toà án giải quyết xác định anh T là cha đẻ của các cháu Ngô Vân A, Ngô Quỳnh C, Ngô Thanh T1, chị cũng nhất trí, chị và anh T không hề chung sống với nhau.

Chủ toạ phiên toà công bố lời khai của bà Ph vắng mặt tại phiên toà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh H phát biểu ý kiến:

- Việc chấp hành pháp luật: Kể từ khi thụ ký vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, và các đương sự đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 88, Điều 89, Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Ngô Thanh T. Xác định anh Ngô Thanh T là cha đẻ của các cháu dự kiến đặt tên Ngô Vân A, sinh ngày 08/4/2018; Ngô Quỳnh C, sinh ngày 15/112/2019 và Ngô Thanh T1, sinh ngày 16/01/2024. Miễn án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho anh T.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét, đánh giá toàn diện, khách quan, đầy đủ các chứng cứ, lời trình bầy của các đương sự, và quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Nguyên đơn anh T khởi kiện Chị H đề nghị Tòa án xác định các cháu dự kiến đặt tên Ngô Vân A, sinh ngày 08/4/2018; Ngô Quỳnh C, sinh ngày 15/112/2019 và Ngô Thanh T1, sinh ngày 16/01/2024 là con của anh, nên quan hệ tranh chấp là Tranh chấp về xác định con cho cha theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn Chị H hiện tạm trú tại xã Tr, huyện Y nên căn cứ Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Y.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trịnh Hồng L và Người làm chứng Hồ Thị Ph vắng mặt và Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho các đương sự hợp lệ nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo Điều 228, Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu xác định cha con của anh Ngô Thanh T: Theo các tài liệu trong vụ án thể hiện: Chị Lê Thị H là vợ hợp pháp của anh Trịnh Hồng L. Do Chị H và anh L phát sinh mâu thuẫn nên Chị H đã sống ly thân với anh L từ năm 2011 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân Chị H và anh T có quen biết và quan hệ tình cảm với nhau, Chị H đã có 03 con chung với anh T là các cháu dự kiến đặt tên Ngô Vân A, sinh ngày 08/4/2018; Ngô Quỳnh C, sinh ngày 15/112/2019 và Ngô Thanh T1, sinh ngày 16/01/2024. Anh T và Chị H đều xác nhận việc anh T là cha đẻ của các cháu trên. Bà Ph và anh L cũng xác nhận các cháu trên không phải con chung giữa anh L và Chị H.

Theo Kết luận giám định AND số 30T05/24/DNA ngày 30/5/2024 của Công ty TNHH đầu tư và công nghệ Genplus đã có kết luận: Anh Ngô Thanh T có quan hệ huyết thống bố con với cháu Ngô Vân A, sinh ngày 08/4/2018; cháu Ngô Quỳnh C, sinh ngày 15/112/2019 và cháu Ngô Thanh T1, sinh ngày 16/01/2024 độ tin cậy 99,9999%.

Từ những phân tích nêu trên, căn cứ các Điều 88, Điều 89, Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của anh Ngô Thanh T, xác định anh T là cha đẻ của các cháu dự kiến đặt tên Ngô Vân A, sinh ngày 08/4/2018; Ngô Quỳnh C, sinh ngày 15/112/2019 và cháu Ngô Thanh T1, sinh ngày 16/01/2024.

Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 88, Điều 89, Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 28, Điều 35; khoản 4 Điều 147, các Điều 228, 229, 235 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Thanh T.

1. Xác định anh Ngô Thanh T là cha đẻ của các cháu dự kiến đặt tên Ngô Vân A, sinh ngày 08/4/2018; Ngô Quỳnh C, sinh ngày 15/112/2019 và cháu Ngô Thanh T1, sinh ngày 16/01/2024.

2. Án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Anh T, Chị H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Anh Trịnh Hồng L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ