- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Th phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Th phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 78/2023/HSST Ngày 29-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vương Thị Hồng Thanh;
2. Ông Từ Anh Tuấn.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Duy Long, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bá Linh, Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:
Phạm Văn Th, sinh năm 1982 tại tỉnh Thanh Hóa; thường trú: Số 3C/28D, khu phố B, phường B, thành phố Th, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn L, sinh năm 1957 và bà Bùi Thị T, sinh năm 1958; bị cáo có ba anh, em ruột, lớn sinh năm 1977, nhỏ sinh năm 1987; bị cáo có vợ tên Phạm Thị Q, sinh năm 1982; bị cáo có 02 con ruột, lớn sinh năm 1013, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Duy Kh (đã chết);
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Lê Thị H, sinh năm 1980; thường trú: Xóm Q, xã V, huyện K, tỉnh Hòa Bình; chỗ ở: 9 D, khu phố M, phường Ph, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn dân sự: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kh; trụ sở: 74/6/1 đường Ph, Phường 5, quận Ph, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp:
Ông Nguyễn Văn Ngh – Giám đốc là đại diện theo pháp luật.
Bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1981; địa chỉ: 74/6/1 đường Ph, Phường 5, quận Ph, Thành phố Hồ Chí Minh là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 27/3/2023).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Phùng Minh Ch, sinh năm 2002; thường trú: Tổ 32, khu phố V, phường Ph, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
Chị Phạm Thị Q, sinh năm 1982; thường trú: Số 3C/28D, khu phố B, phường B, thành phố Th, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Người chứng kiến:
+ Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1993, vắng mặt.
+ Ông Trần Thanh Ph, sinh năm 1974, vắng mặt.
+ Bà Ao Thị Ngọc B, sinh năm 1988, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn Th có giấy phép lái xe ô tô hạng FC, số: 740118002517, được Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 09/8/2019 có giá trị đến ngày 09 tháng 8 năm 2024.
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 15/3/2022, Phạm Văn Th điều khiển xe ô tô đầu kéo, biển số 51C-079.62 màu trắng, kéo theo sơ mi rơ moóc, biển số 51R-173.62 màu vàng đi từ khu công nghiệp H, huyện Nh, thành phố Hồ Chí Minh về khu công nghiệp R, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương để lấy hàng. Xe và rơ moóc trên là của Công ty TNHH Kh, địa chỉ: số 74/6/1 đường Ph, Phường 5, quận Ph, thành phố Hồ Chí Minh, do ông Nguyễn Văn Ngh, chức vụ giám đốc là người đại diện theo pháp luật giao cho Th đi chở hàng. Đến khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, Th lưu thông trên đường Mỹ Phước -Tân Vạn theo chiều đi từ đường ĐT743A về đường Quốc lộ 1K, đến đoạn gần quán cơm M thuộc khu phố Ch, phường B, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (cách quán cơm M khoảng 80 mét), Th điều khiển xe ô tô đỗ sát lề phải theo chiều đi của mình (trên làn đường dành cho xe đạp, xe mô tô và xe 3 bánh) chiếm một phần đường xe chạy là 2,30 mét rồi tắt máy xe, mở đèn tín hiệu cảnh báo nguy hiểm ở phía trước, nhưng không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước, phía sau xe để cảnh báo cho người và phương tiện khác biết. Sau đó, Th vào quán Cơm M để ăn cơm. Đến khoảng 11 giờ 57 phút cùng ngày, anh Nguyễn Duy Kh, sinh năm 2001, thường trú: xóm Quê R, xã V, huyện K, tỉnh Hòa Bình điều điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario màu xanh, biển số: 60F3-985.88 lưu thông trên đường theo hướng từ đường ĐT743A về đường Quốc lộ 1K cùng chiều với xe ô tô do Th đỗ. Do thiếu chú ý quan sát nên anh Khiêm để phần trước xe mô tô do anh Kh điều khiển va chạm trực diện vào góc trái của xe Rơ mooc, biển số 51R 173.62 do Th đỗ. Sau va chạm anh Kh cùng xe mô tô ngã xuống đường.
Hậu quả: Anh Nguyễn Duy Kh tử vong tại hiện trường, xe mô tô biển số 60F3-985.88 và Romooc biển số 51R 173.62 bị hư hỏng.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 15/3/2022 thể hiện:
Điều kiện, hoàn cảnh xảy ra tai nạn: Vụ tai nạn xảy ra vào buổi trưa, có ánh sáng tự nhiên, thời tiết tốt.
Đặc điểm đoạn đường xảy ra tai nạn: Hiện trường tai nạn giao thông xảy ra tại phần đường bên phải đường M, có chiều đi từ Cầu vượt T về đường Quốc lộ 1K, đây là đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị che khuất. Phần đường nơi xảy ra tai nạn có 3 làn đường xe chạy riêng biệt gồm làn đường dành cho xe đạp, xe mô tô, xe 3 bánh rộng 3,60 mét; làn đường dành cho xe ô tô rộng 3,70 mét; làn đường dành cho xe ô tô con, xe ô tô tải có tải trọng dưới 3,5 tấn, xe ô tô chở người dưới 30 chỗ ngồi rộng 4,30 mét. Làn đường dành cho xe đạp, xe mô tô, xe 3 bánh và làn đường dành cho xe ô tô được phân biệt bằng vạch kẻ đường nét liền màu trắng. Làn đường dành cho xe ô tô và làn đường dành cho xe ô tô con, xe ô tô tải có tải trọng dưới 3,5 tấn, xe ô tô chở người dưới 30 chỗ ngồi được phân biệt bằng vạch kẻ đường nét đứt màu trắng.
Vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật và dấu vết:
Sau tai nạn, xe mô tô biển số: 60F3-985.88 bị ngã sang trái đè lên người nạn nhân nên được người dân dựng dậy tại vị trí ngã để đưa nạn nhân rời khỏi xe mô tô. Các dấu vết phương tiện còn lại vẫn được giữ nguyên vị trí, không bị thay đổi, xáo trộn.
Xe ô tô đầu kéo biển số: 51C-079.62 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số: 51R-173.62 (ký hiệu 01) sau tai nạn đỗ trên làn đường dành cho xe đạp, xe mô tô và xe 3 bánh chiếm 2,30 mét của phần đường xe chạy (xe đã tắt động cơ). Đầu xe hướng về Quốc lộ 1K, đuôi xe hướng về Cầu vượt T. Trục bánh xe trước bên phải xe ô tô đầu kéo biển số: 51C-079.62 cách ra mép lề chuẩn là 0,30 mét. Trục bánh xe sau bên phải ô tô đầu kéo biển số 51C-079.62 cách ra mép lề chuẩn 0,30 mét, trục bánh xe sau cùng bên phải của sơ mi rơ moóc biển số: 51R-173.62 cách ra mép lề chuẩn là 0,20 mét. Phía trước và phía sau xe ô tô đầu kéo biển số: 51C-079.62 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số: 51R-173.62 có mở đèn nhấp nháy cảnh báo nguy hiểm, không đặt biển cảnh báo nguy hiểm phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết phòng tránh.
Xe mô tô biển số: 60F3-985.88 (ký hiệu số 02) sau tai nạn được dựng dậy tại vị trí ngã, dưới đuôi bên trái sơ mi rơ moóc biển số: 51R-173.62, đầu xe mô tô biển số: 60F3-985.88 hướng về Quốc lộ 1K, đuôi xe hướng về Cầu vượt T. Trục bánh xe trước cách vào mép lề chuẩn 2,40 mét, cách vào trục bánh sau bên trái sơ mi rơ moóc biển số: 51R-173.62 là 0,90 mét. Trục bánh xe sau cách vào mép lề chuẩn 2,30 mét và cách vào trụ đèn đường T1/22 (ký hiệu số 05) là 11,10 mét.
Nạn nhân (ký hiệu số 03) là nam giới, đội mũ bảo hiểm loại 1/2 đầu màu xám, mặc áo dài tay màu đen có hoa văn màu nâu. Nạn nhân đã chết tại hiện trường trong tư thế nằm ngửa trên làn đường dành cho xe đạp, xe mô tô, xe 3 bánh và làn đường dành cho xe ô tô. Đầu nạn nhân hướng về dải phân cách bê tông phân chia phần đường, cách vào mép lề chuẩn 4,20 mét. Chân nạn nhân hướng về mép lề chuẩn, chân phải cách mép lề chuẩn 2,70 mét, chân trái cách mép lề chuẩn 2,50 mét, cách trục bánh xe trước xe mô tô biển số: 60F3-985.88 là 0,60 mét.
Sau tai nạn các mảnh mủ bể của xe mô tô biển số: 60F3-985.88 (ký hiệu số 06) rơi vãi tại vị trí phía sau bên trái sơ mi rơ moóc biển số: 51R-173.62 và xung quanh xe mô tô biển số: 60F3-985.88, có kích thước 2,00 x 1,00 mét, cách vào mép chuẩn 2,30 mét.
Vết máu nạn nhân (ký hiệu số 07) để lại trên mặt đường sau tai nạn trên làn đường dành cho xe ô tô. Vết máu dạng chảy loang không rõ hình dạng, có kích thước 2,1 x 0,4 mét, cách vào mép chuẩn là 4,30 mét.
* Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 198/GDPY ngày 18/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, về nguyên nhân tử vong của Nguyễn Duy Kh: Do đa chấn thương.
* Kết luận giám định dấu vết cơ học số 141/KL-KTHS(CH) của phòng Kỹ Thuật Hình Sự công an tỉnh Bình Dương ngày 21/4/2022, xác định như sau:
- Dấu vết va chạm giữa xe mô tô hai bánh biển số: 60F3-985.88 và xe ô tô đầu kéo biển số: 51C-079.62 kéo sơ mi rơ moóc biển số: 51R-173.62 là: Dấu vết trượt xước,vỡ ốp nhựa mặt nạ, đèn chiếu sáng trước, hằn, trượt xước các chi tiết kim loại dưới ốp nhựa mặt nạ, trượt xước, vỡ mui dè chắn bùn, lốp, niềng bánh trước, cong vặn hai phuộc bánh trước về sau, qua phải, trượt xước vỡ bửng phải, cong gập sườn xe mô tô hai bánh biển số: 60F3-985.88 từ trước về sau, từ trái qua phải phù hợp với dấu vết trượt mất bụi, cong ở bảng đèn tín hiệu sau, đầu cản sau bên trái sơ mi rơ moóc biển số: 51R- 173.62;
- Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 60F3-985.88 và xe ô tô đầu kéo biển số: 51C-079.62 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 51R-173.62: Phần trước xe mô tô va chạm với bảng đèn tín hiệu sau, đầu cản sau bên trái sơ mi rơ moóc biển số: 51R-173.62 tạo ra dấu vết trên các phương tiện.
- Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số: 60F3-985.88 và xe ô tô đầu kéo biển số 51C-079.62 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số: 51R-173.62 chiếu xuống mặt đường là khu vực đuôi bên trái sơ mi rơ moóc (ký hiệu số 01) trên sơ đồ hiện trường.
* Kết luận giám định cồn, ma túy số 1720/KL-KTHS ngày 07/4/2022 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công An tại thành phố Hồ Chí Minh xác định: Mẫu máu thu giữ từ nạn nhân Nguyễn Duy Kh được giám định không tìm thấy thành phần Ethanol và các chất ma túy.
* Kết quả tiến hành kiểm tra nồng độ cồn, chất ma túy trong máu của Phạm Văn Th tại Trung tâm y tế thanh phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương kết quả: Nồng độ cồn trong máu là 6.356 mmol/l (dưới trị số bình thường là 10,9 mmol/l); Kết quả kiểm tra các chất kích thích: Âm tính.
Theo kết quả xác minh giải thích chuyên môn về kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Phạm Văn Th vào ngày 10/02/2023 tại Trung tâm y tế thành phố Dĩ An:
Theo y học thì trong máu của người bình thường luôn có một hàm lượng cồn nhất định và hàm lượng còn này có nồng độ là nhỏ hơn 10,9 mmol/L. Như vậy kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của anh Phạm Văn Th là 6,356 mmol/L thì theo y học đây là hàm lượng nồng độ cồn trong máu của một người bình thường không sử dụng rượu, bia hay chất có cồn. Nồng độ cồn trong máu của người bình thường được sản sinh trong quá trình cơ thể chuyển hóa thức ăn.
Vật chứng thu giữ; xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe mô tô biển số 60F3-985.88 bị hư hỏng, ngày 17/7/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại cho anh Phùng Minh Ch, sinh năm 2002, thường trú: Tổ 32 khu phố V, phường Ph, thành phố B, tinh Đồng Nai là chủ sỡ hữu hợp pháp chiếc xe trên (anh Ch cho nạn nhân Kh mượn sử dụng), sau khi nhận lại chiếc xe mô tô, anh Ch không yêu cầu bồi thường gì khác.
Đối với chiếc xe ô tô đầu kéo biển số 51C-079.62 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 51R-173.62 tài sản của Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Kh, địa chỉ số 74/6/1 đường Ph, Phường 5, quận Ph, thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17/7/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại cho Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Kh.
Trách nhiệm dân sự:
Ngày 05/6/2022, Phạm Văn Th đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1979, Xóm Q, xã V, huyện K, tỉnh Hòa Bình, đại diện hợp pháp của nạn nhân Kh, tổng cộng số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng). Sau khi nhận đủ số tiền chị Nguyễn Thị H không yêu cầu bồi thường gì khác.
Tại cáo trạng số 89/CT – VKS ngày 17 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phạm Văn Th về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s, x khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn Th từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm.
Quá trình tố tụng, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về các Kết luận giám định trên.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn Th không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong phần nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Đại diện hợp pháp của bị hại có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ vào lời khai của các đương sự xác định trách nhiệm dân sự các bên đã thỏa thuận giải quyết xong và không còn yêu cầu gì khác. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
Về nội dung: Khoảng 11 giờ 57 phút ngày 15/3/2022, tại đoạn đường Mỹ Phước -Tân Vạn (gần quán cơm “M”) thuộc khu phố Ch, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Phạm Văn Th đã có hành vi đỗ xe ô tô đầu kéo, biển số: 51C-079.62 kéo theo sơ mi rơ moóc, biển số 51R-173.62, đỗ xe chiếm một phần đường xe chạy là 2,30 mét mà không đặt biển báo hiệu nguy hiểm phía sau để người điều khiển phương tiện khác biết để phòng tránh, nên đã xảy ra tai nạn giao thông làm anh Nguyễn Duy Kh tử vong, đã vi phạm điểm d khoản 3 Điều 18 Luật giao thông đường bộ, năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2018,2019).
Hành vi phạm tội trên đây của Phạm Văn Th, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng số 89/CT – VKS ngày 17 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là lỗi vô ý nhưng nghiêm trọng đã xâm phạm an toàn công cộng, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của người tham gia giao thông. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã bồi thường chi phí mai táng, tổn thất tinh thần cho đại diện hợp pháp của bị hại; cha bị cáo là thương binh hạng 2/4. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện chưa có tiền án, tiền sự.
Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã thỏa thuận bồi thường xong. Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không còn yêu cầu gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.
Xét xe mô tô biển số 60F3-985.88, anh Phùng Minh Ch là chủ sở hữu hợp pháp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại cho anh Ch là phù hợp với quy định của pháp luật. Sau tai nạn, xe bị hư hỏng, tuy nhiên anh Chiến không yêu cầu bồi thường.
Xét xe ô tô đầu kéo biển số 51C-079.62 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 51R-173.62 là tài sản của Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn K, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại cho người đại diện hợp pháp của Công ty ông Nguyễn Văn Ngh là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng nhưng là lỗi vô ý, sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã khắc phục thiệt hại, thăm hỏi đối với gia đình bị hại, bị hại điều khiển xe thiếu chú ý quan sát, lỗi phụ dẫn đến tai nạn, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kể từ khi được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và địa phương. Vì vậy, xem xét cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng không ảnh hưởng đến việc phòng chống tội phạm tại địa phương. Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với bị cáo.
Vật chứng: Đối với Giấy phép lái xe số 740118002517 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 09/8/2019 cho Phạm Văn Th, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Dĩ An đề nghị áp dụng các giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, nhân thân, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Riêng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 là không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Th phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Th 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân phường phường Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người đang chấp hành thời gian thử thách thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Người được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 15A ngày 21/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Phạm Văn Th.
2. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Phạm Văn Th 01 giấy phép lái xe số xe số 740118002517 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 09/8/2019.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Phạm Văn Th phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - Bị cáo (01); - VKSND thành phố Dĩ An (01); - VKSND tỉnh Bình Dương (01); - Công an thành phố Dĩ An (01); - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01); - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - Phòng PV 06 CA tỉnh BD (01); - UBND nơi cư trú của bị cáo (01); - Người tham gia tố tụng (05); - Lưu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thắm |