- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn N phạm tội" Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THÁI NGUYÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2023/HSST Ngày 12/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hạng Minh Thu
2. Ông Lê Đình Hiệp
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Chính, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái
Nguyên tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Kim Oanh, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành
phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:
Bùi Văn N, tên gọi khác: không. Sinh ngày 20/7/1985. ĐKHKTT: Tổ dân
phố A, thị trấn HS, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn Th; Con bà Nguyễn Thị T; Vợ là Nguyễn Thị D, có 02 con; Tiền án, Tiền sự: Không
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên
(bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2022 đến nay). Có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: Anh Phạm Quang T1, sinh năm 1994. Vắng mặt
Trú tại: Xóm SC, xã SC, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 20 phút ngày 22/12/2022, tổ công tác của Công an xã SC, thành
phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Đồng Danh của xã thì phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai tên là Bùi Văn N, đồng thời tự giác lấy ra từ túi áo phía trước bên trái đang mặc 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác. N khai đó là ma túy Heroine vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến
hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của Bùi Văn N có khối lượng 0,147 gam và lấy toàn bộ cho vào bì niêm phong ký hiệu N1 gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 102/KL-KTHS ngày 30/12/2022 của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu N1 gửi giám định là chất ma tuý; Loại Heroine; Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,147 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn N khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày
22/12/2022, N đi xe buýt từ nhà đến khu vực xóm Đồng Danh, xã SC, thành phố Thái Nguyên để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Đến nơi, N gặp và mua 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa Heroine của một người đàn ông không quen với giá 100.000 đồng. Mua xong, N cất gói ma túy ở túi áo phía trước bên trái đang mặc rồi đi bộ tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đi được một đoạn thì bị tổ công tác của Công an xã SC phát hiện bắt quả tang như nêu trên.
Vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong kí hiệu N1, N2. Hiện đang được
bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKSNDTPTN, ngày 27/02/2023 Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Bùi Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố là
đúng người, đúng tội, không oan, sai.
- Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố
Thái Nguyên trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38
BLHS, xử phạt bị cáo Bùi Văn N từ 18 đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu N1, N2; Về án phí: buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị
cáo xin HĐXX cho hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan
điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.
. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người
phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 08 giờ 20 phút ngày 22/12/2022, tại khu vực xóm Đồng Danh, xã SC,
thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Bùi Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 0,147 gam chất ma túy, loại Heroine, để dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã SC, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Bùi Văn N
về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ. Nội dung điều luật như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích
mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c, Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Bị cáo đủ nhận thức để nhận biết được tác hại của ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị
cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không
có tài sản gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
. Vật chứng vụ án: Đối với 02 bì niêm phong ký hiệu N1, N2 bên trong
chứa ma túy và vỏ bao gói mẫu cần tịch thu tiêu hủy.
. Về các vấn đề khác: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có
quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của một người đàn ông không
quen biết tại khu vực khu vực xóm Đồng Danh, xã SC, thành phố Thái Nguyên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở để xử lý.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1
Điều 51BLHS, xử phạt Bùi Văn N 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày
tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu N1, N2.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số290 ngày
06/4/2023 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số
97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho
biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND tỉnh TN; - VKSND TPTN; - Sở Tư pháp tỉnh TN; - Công an TPTN; - THADS TPTN; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Tứ Xuân |