vanban.org

Bản án 78/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuyên án 27/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo C V Q tên gọi khác Cầm Phú Quý phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo C V Q tên gọi khác Cầm Phú Quý 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 21/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ C V Q và M A S - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo C V Q tên gọi khác Cầm Phú Quý phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________
Bản án số: 78/2023/HS-ST
Ngày 27-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Quàng Thị Hỏa.

Bà Nguyễn Thị Hương.

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Ngọc Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Thiều - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

C V Q, tên gọi khác C P Q, sinh ngày 15/9/1969, tại Mường Trai, Mường La, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông C V D, sinh năm 1925 và con bà C T L đã chết; có vợ là Quàng Thị Soạn, sinh năm 1982, có 03 con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Tại bản án số 91/1999/HSST ngày 28/5/1999 Tòa án nhân dân huyện tỉnh Sơn La xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2023; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

M A S, sinh ngày 17/02/1998, tại Nậm Giôn, Mường La, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản Huổi Hốc, xã Nậm Giôn, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mùa A Súa, đã chết và con bà Và Thị Chia, sinh năm 1974; có vợ là Ly Thị Si, sinh năm 1995, có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2023; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo C V Q: Ông Đỗ Văn Thuận – Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo M A S: Ông Trần Quốc Tuấn – Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo C V Q và M A S bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào hồi 14 giờ 35 phút ngày 21/02/2023, tại bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang C V Q, sinh ngày 15/9/1969, ở bản X, Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho M A S, sinh ngày 17/02/1998, địa chỉ: Bản Huổi Hốc, xã Nậm Giôn, huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

Vật chứng thu giữ do C V Q tự giác lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc giao nộp:

01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng, C V Q khai là Heroine để sử dụng và bán kiếm lời;

01 tờ tiền loại 100.000, đồng (một trăm nghìn đồng) C V Q khai là tiền vừa bán 01 gói Heroine được gói giấy trắng có dòng kẻ cho M A S mà có;

Vật chứng thu giữ do M A S tự giác lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc giao nộp:

01 gói giấy trắng có dòng kẻ bên trong có chứa cục bột màu trắng, M A S khai là Heroine vừa mua của C V Q để sử dụng;

Ngày 21/02/2023 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:

Vật chứng thu giữ do M A S tự giác lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc giao nộp:

01 gói giấy trắng có dòng kẻ bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 0,10 gam lấy 0,10 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu QS;

Vật chứng thu giữ do C V Q tự giác giao nộp:

01 gói được gói bằng nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng có khối lượng 1,78 gam lấy 0,13 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu Q1;

Cơ quan Công an huyện Mường La ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 438/KL-KTHS ngày 23/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

Mẫu ký hiệu SQ, Q1 là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định SQ là 0,10 gam; Q1 là 0,13 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 1,88 gam Heroine.

Kết luận giám định số tiền: 01 tờ tiền loại 100.000, đồng là tiền thật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo C V Q và M A S, những người bào chữa không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Quá trình điều tra C V Q và M A S khai nhận: Trước đó khoảng 12 giờ 30 phút ngày 20/02/2023 C V Q đi từ nhà đến khu vực bản Đán Én, xã Y, huyện Mường La tại đây C V Q có gặp và mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên và địa chỉ 01 gói Heroine với giá 1.500.000, đồng cất giấu đem về nhà mục đích để sử dụng và bán. Hồi 14 giờ 35 phút ngày 21/02/2023 C V Q bán cho M A S 01 gói Heroine với giá 100.000, đồng, thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Về nguồn gốc số ma túy C V Q khai mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của C V Q.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo C V Q đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo M A S đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bản cáo trạng số: 52/CT-VKS-ML ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố các bị cáo: C V Q về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và bị cáo M A S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo C V Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt C V Q từ 30 đến 36 tháng tù;

Tuyên bố các bị cáo M A S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt M A S từ 18 đến 24 tháng tù;

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo do không có tài sản.

Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 02 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh giấy trắng có dòng kẻ, có chữ; 01 mảnh nilon màu trắng; 1,65 gam Heroine (được niêm phong).

Đối với khoản tiền 100.000, đồng bị cáo bán ma túy mà có, cần buộc thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo C V Q và M A S được miễn án phí hình sự sơ thẩm, do là hộ nghèo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Các bị cáo, những người bào chữa nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Những người bào chữa cho các bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo.

Lời nói sau cùng của các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Bị cáo C V Q và M A S thừa nhận: Hồi 14 giờ 35 phút ngày 21/02/2023, tại nhà ở bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã thực hiện hành vi bán trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,10 gam cho M A S để lấy 100.000, đồng. Đồng thời tàng trữ trái phép 1,78 gam Heroine để sử dụng và bán thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Bị cáo M A S thừa nhận: Hồi 14 giờ 35 phút ngày 21/02/2023, tại nhà của C V Q ở bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã thực hiện hành vi mua trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,10 gam để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo C V Q đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo M A S đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo.

Các bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo C V Q có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy, đã bị kết án: Tại bản án số 91/1999/HSST ngày 28/5/1999 Tòa án nhân dân huyện tỉnh Sơn La xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã được xóa án tích. Bị cáo thật thà khai báo, bố mẹ là gia đình có công với cách mạng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bị cáo M A S có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 02 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh giấy trắng có dòng kẻ, có chữ; 01 mảnh nilon màu trắng; 1,65 gam Heroine (được niêm phong).

Đối với khoản tiền 100.000, đồng bị cáo bán ma túy mà có, cần buộc thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

Về nguồn gốc ma túy C V Q khai mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của C V Q, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.

Bị cáo C V Q được miễn án phí hình sự sơ thẩm do thuộc hộ nghèo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo M A S không có đơn đề nghị và tài liệu miễn án phí, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo C V Q tên gọi khác Cầm Phú Quý phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo C V Q tên gọi khác Cầm Phú Quý 30 (ba mươi) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 21/02/2023.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo M A S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo M A S 21 (hai mươi mốt) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 21/02/2023.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 02 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh giấy trắng có dòng kẻ, có chữ; 01 mảnh nilon màu trắng; 1,65 gam Heroine (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 21/02/2023).

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 100.000, đồng (một trăm nghìn đồng) do bị cáo bán ma túy mà có.

Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

3. Về án phí:

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo C V Q tên gọi khác Cầm Phú Quý được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Tòa án.

Bị cáo M A S phải chịu 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 27/6/2023.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ