vanban.org

Bản án 78/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Đặng Văn L.

2/ Về con chung: Bà Nguyễn Thị L và ông Đặng Văn L có 04 người con chung Đặng Minh C, sinh ngày 04/7/1990; Đặng Thị P, sinh ngày 06/8/1993; Đặng Thị Quàng P, sinh ngày 06/8/1997; Đặng Thị Bích H, sinh ngày 20/8/2003, hiện các con đã trưởng thành. 3/ Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Nguyễn Thị L và Đặng Văn L"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Đặng Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ AN NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 23-3-2023
Về việc “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Công Giáo

Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Trương Thị Hiệp

2. Ông Nguyễn Hữu Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân Thị xã A

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thị xã A tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thị xã A xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 307/2022/TLST – HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 259/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 322/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963; Địa chỉ: thôn L xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt.

- Bị đơn: Ông Đặng Văn L, sinh năm 1964; Địa chỉ: thôn L, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có yêu cầu vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà và ông Đặng Văn L qua mai mối, tự nguyện tổ chức cưới, đăng ký kết hôn tại UBND xã N ngày 19/9/1988. Sau khi cưới, vợ chồng sống tại thôn L, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định. Từ khi cưới nhau đến nay, vợ chồng thường xuyên kình cãi, ông L nhiều lần đánh đập bà. Vì con còn nhỏ nên bà nhẫn nhịn tiếp tục chung sống nhưng ông L không thay đổi tính tình. Vợ chồng vẫn sống chung một nhà nhưng bà rất áp lực vì sợ ông L đánh đập. Bà yêu cầu Tòa giải quyết cho bà ly hôn ông Đặng Văn L để bà ổn định cuộc sống.

Vợ chồng có 04 người con chung Đặng Minh C, sinh ngày 04/7/1990; Đặng Thị P, sinh ngày 06/8/1993; Đặng Thị Quàng P, sinh ngày 06/8/1997; Đặng Thị Bích H, sinh ngày 20/8/2003, hiện các con đã trưởng thành.

Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.

- Theo bản tự khai và biên bản lấy lời khai bị đơn Đặng Văn L trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị L kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N vào năm 1988. Vợ chồng sống với nhau đã có 04 người con, các con đều đã trưởng thành. Từ hơn một năm nay vợ chồng sống không hạnh phúc, nhiều mâu thuẫn nên đã tự sống ly thân, không có tình cảm, không có sự quan tâm nhau, mạnh ai nấy sống. Ông xác định không còn tình cảm với bà Nguyễn Thị L nhưng không muốn ly hôn vì đã lớn tuổi, việc ly hôn sẽ ảnh hưởng đến các con.

Tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Tại phiên tòa: Bà Nguyễn Thị L vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn ông Đặng Văn L.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã A tham gia phiên Tòa: Về tố tụng: Hoạt động tố tụng của Tòa án trong quá trình thụ lý và tại phiên Tòa đều tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị cho bà Nguyễn Thị L ly hôn ông Đặng Văn L. Bà Nguyễn Thị L và ông Đặng Văn L có 04 người con chung đã trường thành nên miễn xét. Tài sản chung các bên đương sự không tranh chấp nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Nguyễn Thị L có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Đặng Văn L; bị đơn Đặng Văn L đang cư trú tại thị xã A, tỉnh Bình Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thị xã A theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Đặng Văn L đã được triệu tập tham gia tố tụng tại phiên tòa lần thứ 2 và có yêu cầu được xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đặng Văn L.

Bà Nguyễn Thị L và ông Đặng Văn L tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng, đăng ký kết hôn ngày 19/9/1988 tại Ủy ban nhân dân xã Nhơn Hạnh nên hôn nhân của ông bà hợp pháp.

Theo trình bày của bà Nguyễn Thị L nguyên nhân bà yêu cầu được ly hôn với ông Đặng Văn L vì thường xuyên bị ông đánh đập, ngược đãi vì ghen tuông, nghi ngờ. Cuộc sống của bà luôn ở trong trạng thái lo âu và áp lực. Để chứng minh cho lời khai của mình, bà Nguyễn Thị L đã nhờ bà con địa phương xác nhận thực tế mức độ mâu thuẫn trong cuộc sống giữa bà và ông Đặng Văn L. Ông Đặng Văn L thừa nhận hơn 1 năm nay vợ chồng sống không có hạnh phúc, nhiều mâu thuẫn, không có tình cảm, không có sự quan tâm, mạnh ai nấy sống. Bản thân ông Lang xác định cũng không còn tình cảm gì với bà Nguyễn Thị L nhưng không muốn ly hôn vì mặc cảm lớn tuổi. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Đặng Văn L tham dự phiên hòa giải để hàn gắn hạnh phúc nhưng ông Lang không tham dự. Điều này đã chứng minh ông Lang không có thiện chí trong việc hòa giải. Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình khi có căn cứ để xác định mức độ mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. Xét thấy các nguyên nhân để bà Nguyễn Thị L yêu cầu được ly hôn ông Đặng Văn L là có căn cứ nên chấp nhận.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị L và ông Đặng Văn L có 04 người con chung Đặng Minh C, sinh ngày 04/7/1990; Đặng Thị P, sinh ngày 06/8/1993; Đặng Thị Quàng P, sinh ngày 06/8/1997; Đặng Thị Bích H, sinh ngày 20/8/2003, hiện các con đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

Tài sản chung: Các đương sự không tranh chấp nên không xem xét giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã A phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 227, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Đặng Văn L.

2/ Về con chung: Bà Nguyễn Thị L và ông Đặng Văn L có 04 người con chung Đặng Minh C, sinh ngày 04/7/1990; Đặng Thị P, sinh ngày 06/8/1993; Đặng Thị Quàng P, sinh ngày 06/8/1997; Đặng Thị Bích H, sinh ngày 20/8/2003, hiện các con đã trưởng thành.

3/ Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

4/ Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005344 ngày 05/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Thị xã A.

5/ Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị L có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Đặng Văn L vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ