- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 03 (ba) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 01 năm 2022.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 78/2022/HS-ST Ngày: 22-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Tô Tấn Chương
Bà Trần Nguyệt Mai
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thành – Thư ký Toà án nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Giàu- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 96/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành T, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1995 tại: Vĩnh Long; giới tính: Nam; Nơi thường trú: Ấp Thành K, xã Thành Đ (nay là Tổ 10, ấp Thành K, thị trấn Q), huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thành N; con bà: Nguyễn Thị Thanh T; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2022 (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phùng L, sinh năm 1976. Địa chỉ thường trú: 664/126 đường C, Phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 17/01/2022, khi Nguyễn Thành T đang ở nhà số 189I/21B đường T, Phường B, Quận F thì có một người tên H (là bạn bè quen biết ngoài xã hội, không rõ nhân thân lai lịch) gọi điện thoại số 0931791*** cho T đến gặp H ở chung cư H, Quận F (không rõ số phòng, số lầu) để lấy ma túy đi giao cho khách ở Quận N, xong việc H sẽ trả công cho T với số tiền 200.000 đồng, T đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số 59P3-220.65 đến khu vực nhà của H ở chung cư H, Quận F đứng chờ H. Khi gặp H đưa cho T 02 gói nylon chứa ma túy (01 gói chứa khay và một gói chứa thuốc lắc), T cầm lấy rồi bỏ chung vào 01 gói nylon rồi dùng băng keo màu đỏ dán vào trong bửng xe phía bên trái xe mô tô biển số 59P3-220.65 nhằm tránh bị phát hiện, T điều khiển xe qua khu vực Quận N để giao ma túy cho khách. Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe đến trước nhà số 1115 đường Đ, Phường F, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh để đứng đợi khách thì bị Tổ trinh sát thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận N kiểm tra phát hiện T có cất giấu 01 gói nylon chứa tinh T không màu và 01 gói nylon chứa 04 viên nén màu hồng được dán băng keo phía bên trái bửng xe mô tô 59P3-220.65 nên đưa T cùng vật chứng về Công an Phường F, Quận N lập biên bản phạm tội quả tang.
Nguyễn Thành T khai số ma túy cất giấu nhằm mục đích giao cho khách của đối tượng tên H để lấy tiền công. T không biết 02 gói ma túy có giá bao nhiêu tiền và khách mua giá bao nhiêu vì khách sẽ chuyển khoản trực tiếp cho H. Ngoài ra, T khai nhận đã giúp H giao ma túy cho khách từ khoảng tháng 10 năm 2021, mỗi lần giao ma túy H sẽ trả cho T từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Thành T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thành T và hình dấu Công an Phường F, Quận N, bên trong có 01 gói nylon đựng: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 2,0899g (hai phẩy không tám chín chín gam), loại Ketamine và 01 (một) gói nylon chứa 04 viên nén màu hồng (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 2,0948g (hai phẩy không chín bốn tám gam), loại MDMA (Số mẫu vật còn lại sau giám định được gói trong 01 gói niêm phong số 187/2022/Q5. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Phạm Hoàng Thương và cán bộ điều tra Nguyễn Thành Tấn); 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius FI, biển số 59P3-220.65; 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone, số Imei: 353040093134194; 01 (một) đoạn băng keo dính màu đỏ dài 9 cm.
Tại Kết luận giám định số 746/KLGĐ-MT ngày 26/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 (một) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thành T và hình dấu Công an Phường F, Quận N, bên trong có 01 gói nylon đựng: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 2,0899g (hai phẩy không tám chín chín gam), loại Ketamine và 01 (một) gói nylon chứa 04 viên nén màu hồng (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 2,0948g (hai phẩy không chín bốn tám gam), loại MDMA.
Bản cáo trạng số: 57/CTr-VKS ngày 30/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận N giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T với mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Thành T không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa công khai, bị cáo Nguyễn Thành T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Nguyễn Thành T đã có hành vi giúp cho tên H (không rõ lai lịch) thực hiện hành vi mua bán các chất ma túy và bị Cơ quan Công an bắt quả tang khi đang cất giữ chất ma túy với khối lượng 2,0899g (hai phẩy không tám chín chín gam), loại Ketamine và 2,0948g (hai phẩy không chín bốn tám gam), loại MDMA. Hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết việc tàng trữ, mua bán trái phép các chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý giúp cho tên H (không rõ lai lịch) thực hiện hành vi mua bán chất ma túy, bị cáo T là người đi giao ma túy cho người mua nhằm mục đích hưởng lợi.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại; gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, bên cạnh đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án tiền sự. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có T cải tạo thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích hưởng lợi. Do đó Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Viện kiểm sát nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Đối với đối tượng tên H và người mua ma túy hiện Cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, khi nào bắt được sẽ xem xét xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thành T và hình dấu Công an Phường F, Quận N, bên trong có 01 gói nylon đựng: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 2,0899g (hai phẩy không tám chín chín gam), loại Ketamine và 01 (một) gói nylon chứa 04 viên nén màu hồng (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 2,0948g (hai phẩy không chín bốn tám gam), loại MDMA (Số mẫu vật còn lại sau giám định được gói trong 01 gói niêm phong số 187/2022/Q5. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Phạm Hoàng Thương và cán bộ điều tra Nguyễn Thành Tấn); 01 (một) đoạn băng keo dính màu đỏ dài 9 cm. Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nữa nên tịch thu tiêu hủy.
01 (một) điện thoại di động hiệu iphone, số Imei: 353040093134194 là tài sản cá nhân của bị cáo T, T sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius FI, biển số 59P3-220.65 là tài sản cá nhân của ông Phùng L, ông L cho bị cáo T mượn chạy xe Grab, không biết T sử dụng đi giao ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận N đã trả lại xe cho ông Phùng L là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1, Khoản 5 Điều 251; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 03 (ba) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 01 năm 2022.
Buộc bị cáo Nguyễn Thành T nộp phạt bổ sung số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thành T và hình dấu Công an Phường F, Quận N, bên trong có 01 gói nylon đựng: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 2,0899g (hai phẩy không tám chín chín gam), loại Ketamine và 01 (một) gói nylon chứa 04 viên nén màu hồng (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 2,0948g (hai phẩy không chín bốn tám gam), loại MDMA (Số mẫu vật còn lại sau giám định được gói trong 01 gói niêm phong số 187/2022/Q5. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Phạm Hoàng Thương và cán bộ điều tra Nguyễn Thành Tấn); 01 (một) đoạn băng keo dính màu đỏ dài 9 cm.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone, số Imei: 353040093134194.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TpHCM; - Sở Tư pháp TpHCM; - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận N; - Cơ quan CSĐT Công an Quận N; - Bộ phận THA HS Tòa án Quận N; - Phòng PV 06 – Công an TPHCM; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận N; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thanh Tiền |