vanban.org

Bản án 78/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 16/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Quang S phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: bị cáo Phan Quang S 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2022. Buộc bị cáo Phan Quang S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Quang S - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Quang S phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 78/2022/HS-ST
Ngày: 16-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Trường Phát.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Tịnh Thới.

2. Ông Phạm Đức Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Ông Phan Quang Hùng - Kiểm sát viên.

Vào ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 65/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Phan Quang S, sinh năm 2000, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp 5, xã XT, huyện XL, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Quang T, sinh năm 1970 (chết) và bà Đinh Thị Cẩm L, sinh năm 1970; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/01/2022. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Anh Trì Quốc T, sinh năm 1999 (đã chết).

Đại diện hợp pháp của anh Trì Quốc T:

1. Ông Trì Văn N, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Ấp 2, xã H, huyện XL, tỉnh Đồng Nai. (Vắng)

2. Bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Ấp 2, xã H, huyện XL, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Đắc N, sinh năm 1958; Nơi cư trú: Ấp 3, xã XT, huyện XL, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)

2. Anh Phạm Ngọc G, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Ấp T, xã X, huyện XL, tỉnh Đồng Nai. (Vắng)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/01/2021, ông Nguyễn Đắc N (không có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định) điều khiển xe mô tô biển số 60B5-006.99 lưu thông trên làn đường xe thô sơ thuộc phần đường bên phải Quốc lộ 1A, theo hướng thành phố Hồ Chí Minh đi tỉnh Bình Thuận. Cùng lúc này, Phan Quang S (không có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, không đội nón bảo hiểm) điều khiển xe mô tô biển số 60H5-143.30 chở theo sau anh Trì Quốc T lưu thông cùng chiều, cùng làn đường phía sau. Khi ông Nguyễn Đắc N điều khiển xe mô tô đến gần Km 1787+100m Quốc lộ 1A (ngã 3 Sông Ui), thuộc ấp 3, xã XT, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, ông Nguyễn Đắc N quan sát thấy xe mô tô của Phan Quang S cách với xe của ông Nguyễn Đắc N khoảng 60m, nghĩ an toàn nên ông Nguyễn Đắc N điều khiển xe chuyển hướng qua làn đường xe cơ giới bên trái Quốc lộ 1A theo hướng đi để rẽ vào đường SU đi về nhà. Cùng lúc này, Phan Quang S điều khiển chạy với tốc độ nhanh, phát hiện xe ông Nguyễn Đắc N chuyển hướng qua đường nhưng không xử lý tình huống theo cách an toàn, không phanh xe giảm tốc độ tối đa để hạn chế sự va chạm, mà Phan Quang S điều khiển xe chạy sang trái theo hướng đi của mình để tránh nhưng không kịp, khi ông Nguyễn Đắc N điều khiển xe chuyển hướng đến làn đường xe cơ giới bên trái Quốc lộ 1A theo hướng đi (cách tim đường khoảng 01m đến 1,5m) thì phần bên phải xe mô tô biển số 60H5-143.30 đã va chạm với phần bên trái xe mô tô biển số 60B5-006.99 gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Anh Trì Quốc T bị thương và chết vào ngày 07/01/2021 tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Ông Nguyễn Đắc N và Phan Quang S bị thương nhẹ và đã tự nguyện từ chối giám định thương tích.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 98/KLGĐ-PC09 ngày 05/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai đối với nạn nhân Trì Quốc T, kết luận: Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não, xuất huyết khoang dưới nhện, xuất huyết não thất, xuất huyết cầu não, dập - xuất huyết não trán hai bên và đỉnh - chẩm - thái dương trái.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 466/KL-VPYTW ngày 14/7/2021 của Viện pháp y tâm thần Trương ương Biên Hòa đối với ông Nguyễn Đắc N, kết luận:

- Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị bệnh rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn (F07.8 - ICD.10)/Chấn thương sọ não cũ.

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:

+ Tại thời điểm gây án: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

+ Hiện nay: Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

- Tại giấy chứng nhận nồng độ cồn trong máu số 10/GCN-TTYT ngày 26/4/2021 của Trung tâm y tế huyện Xuân Lộc cấp cho Phan Quang S kết luận: Kết quả XN Alcool máu: 5 mg/dl.

- Tại giấy chứng nhận nồng độ cồn trong máu số 09/GCN-TTYT ngày 26/4/2021 của Trung tâm Y tế huyện Xuân Lộc cấp cho Nguyễn Đắc N kết luận: Kết quả XN Alcool máu: 43 mg/dl.

- Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông và biên bản thực nghiệm hiện trường thể hiện: Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn là đường thẳng, thảm nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 12,2m; ở giữa có 02 vạch liền nét, màu vàng (vạch tim đường) phân chia 02 chiều xe ngược nhau, mỗi bên có 02 làn đường: Làn đường xe cơ giới rộng 3,5m, làn đường xe thô sơ rộng 2,6m; giữa 02 làn đường có vạch đơn, đứt nét, màu trắng (vạch phân làn). Quá trình khám nghiệm hiện trường chọn hướng lưu thông thành phố Hồ Chí Minh đi tỉnh Bình Thuận làm chuẩn, mô tả như sau:

+ Xe mô tô biển số 60B5-006.99 ngã sang trái, nằm trên làn đường xe cơ giới bên trái Quốc lộ 1A, đầu xe hướng chếch đi tỉnh Bình Thuận, đuôi xe hướng chếch đi thành phố Hồ Chí Minh. Trục bánh trước và trục bánh sau cách vạch phân làn bên trái Quốc lộ 1A lần lượt là 2m và 2,2m. Nối liền vị trí xe ngã về hướng đi thành phố Hồ Chí Minh là dấu vết cày xe mô tô biển số 60B5-006.99 dài 04m, đầu vết cày trên làn đường xe cơ giới bên trái Quốc lộ 1A và cách vạch phân làn bên trái Quốc lộ 1A 2,4m, cuối vết cày tại vị trí đầu gác chân trước bên trái xe mô tô biển số 60B5-006.99 ngã.

+ Xe mô tô biển số 60H5-143.30 ngã sang trái, nằm trong lề đất bên trái Quốc lộ 1A, đầu xe hướng đi tỉnh Bình Thuận, đuôi xe hướng đi thành phố Hồ Chí Minh. Trục bánh trước và trục bánh sau cách vạch phân làn bên trái Quốc lộ 1A lần lượt là 4,1m và 4,4m. Nối liền vị trí xe ngã về hướng đi thành phố Hồ Chí Minh là dấu vết cày xe mô tô biển số 60H5-143.30 dài 20m; đầu vết cày trên làn đường xe cơ giới bên trái Quốc lộ 1A, cách vạch phân làn bên trái Quốc lộ 1A 0,4m và đối xứng với trục bánh trước xe mô tô biển số 60B5-006.99; cuối vết cày tại vị trí đầu gác chân trước bên trái xe mô tô biển số 60H5-143.30 ngã.

* Kết quả khám phương tiện:

- Đối với xe mô tô biển số 60B5-006.99:

+ Số máy V00319324, số khung 9H019324, nhãn hiệu Citicup, màu sơn đen - đỏ, dung tích 107.

+ Chắn bùn phía trước đầu xe bể rời vị trí. Giảm xóc bánh trước bên trái gãy kim loại, rời vị trí, phạm vi (12x13)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 30cm. Vành kim loại khung bánh trước cong móp từ trái sang phải, phạm vi (40x44)cm, tâm dấu vết cách van bơm 31cm. Giảm xóc bánh trước bên phải có dấu vết vân lốp cao su đen, phạm vi (05x33)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 29cm. Cụm đèn chiếu sáng, đền xin đường phía trước bể rời vị trí. Mủ nhựa bảo vệ cụm đồng hồ kilomet bể rời vị trí. Gương chiếu hậu và yếm chắn gió bên trái bể rời vị trí. Đầu tay lái bên trái có dấu vết ma sát, trầy xước cao su đen phạm vi (01x02)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 100cm. Đầu gác chân trước bên trái bị đẩy từ sau ra trước 10cm so với bình thường và có dấu vết ma sát, mài mòn kim loại phạm vi (01x02)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 30cm. Mủ nhựa bảo vệ hông bên trái thân xe bung hở và bể phạm vi (03x10)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 70cm và cách đầu xe 52cm.

- Đối với xe mô tô biển số 60H5-143.30:

+ Số máy KC34E1159955, số khung: 3700LY100211, nhãn hiệu Honda Winnerx, màu sơn đỏ - đen, dung tích 149.

+ Đầu chắn bùn bánh trước có dấu vết ma sát, trầy xước mủ nhựa, tróc sơn màu đỏ phạm vi (03x07)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 53cm. Đèn xin đường bên trái đầu xe bể rời vị trí. Yếm chắn gió bên trái đầu xe có dấu vết ma sát, trầy xước bể nhựa phạm vi (34x48)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 64cm. Đầu tay lái bên trái có dấu vết ma sát, trầy xước kim loại, dính bụi đất, tróc sơn màu đen phạm vi (03x04)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 99cm. Đầu phanh tay bên trái có dấu vết ma sát, trầy xước mài mòn kim loại phạm vi (01x01)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 93cm. Không có gương chiếu hậu hai bên. Đầu gác chân trước bên trái gãy rời vị tri phạm vi (04x04)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 08cm. Đầu cần số bên trái bị đẩy từ trước ra sau 04cm so với bình thường. Mủ nhựa bảo vệ bên trái thân xe có dấu vết ma sát, trầy xước phạm vi (10x18)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 77cm và cách góc đuôi xe 48cm. Mặt ngoài khung bảo vệ yên xe bên phải có dấu vết ma sát, trầy xước mài mòn kim loại phạm vi (01x05)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 91cm. Góc mặt bên phải mủ nhựa bảo vệ cụm đồng hồ kilomet có dấu vết ma sát, trầy xước phạm vi (08x12)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 110cm và cách đầu tay lái bên phải 31cm. Yếm chắn gió bên phải bung hở, bể mủ nhựa phạm vi (29x31)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 82cm. Góc đuôi xe bên phải bể nứt mủ nhựa dài 20cm, dính tại vị trí. Mặt ngoài đuôi ống xả bên phải có dấu vết ma sát, bể mủ nhựa phạm vi (18x30)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 45cm.

* Kết quả giám định phương tiện:

- Tại Bản kết luận giám định số 679/KLGĐ-PC09 ngày 27/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận:

+ Hệ thống dấu vết nứt vỡ, trượt xước, cong vênh tại các chi tiết bên trái: Giảm sóc trước, vè chắn bùn trước, yếm chắn gió; cong vênh khung gác chân trước của xe mô tô biển số 60B5-006.99 có chiều hướng từ sau ra trước, từ trái qua phải, hình thành do quá trình va chạm với các chi tiết bên phải: Chắn bùn trước, yếm chắn gió cùng ốp ống xả của xe mô tô biển số 60H5-143.30 khi hai xe va chạm trong trạng thái cùng chiều lưu thông.

+ Hệ thống dấu vết nứt vỡ, trượt xước, mài mòn tại các chi tiết còn lại bên trái trên cả hai xe mô tô biển số 60B5-006.99 và xe mô tô biển số 60H5-143.30 có chiều hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải, hình thành do quá trình va chạm với mặt đường khi xe ngã.

- Tại Bản kết luận giám định tư pháp số 120/TTĐKXCG ngày 05/5/2021 của Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Đồng Nai, kết luận:

+ Tình trạng kỹ thuật sau tai nạn của xe mô tô biển số 60B5-006.99 tại thời điểm kiểm tra: Xe hư hỏng quá nặng nên không kiểm tra được sự vận hành của các hệ thống.

+ Tình trạng kỹ thuật sau tai nạn của xe mô tô biển số 60H5-143.30 tại thời điểm kiểm tra: Đèn xi nhan trước bên trái đầu xe bể. Đầu gác chân trước bên trái gãy rời, đầu cần số bên trái bị uốn cong. Yếm chắn gió bên phải nứt bể; yếm chắn gió bên trái trầy xước. Ốp thân xe hai bên trầy xước. Ốp bảo vệ ống xả khói bể, trầy xước. Không có gương chiếu hậu hai bên. Hệ thống phanh, cơ cấu lái vẫn hoạt động bình thường. Hệ thống điện không hoạt động, không khởi động được động cơ nên không kiểm tra được các hoạt động của hệ thống khác.

Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô biển số 60B5-006.99 và 01 xe mô tô biển số 60H5-143.30.

Bản cáo trạng số 71/CT-VKSXL ngày 29 tháng 4 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố bị cáo Phan Quang S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/01/2021, tại Km 1787+100m Quốc lộ 1A (đường vào ngã 3 Sông Ui), thuộc Ấp 3, xã XT, huyện XL, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Phan Quang S điều khiển xe mô tô biển số 60H5-143.30 không có giấy phép lái xe theo quy định, có nồng độ cồn trong máu, chở theo sau anh Trì Quốc T, cả hai không đội mũ bảo hiểm, không làm chủ được tay lái, tốc độ và giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 60B5-006.99 do ông Nguyễn Đắc N điều khiển chạy cùng chiều phía trước đã chuyển hướng qua đường từ phần đường bên phải sang đến làn đường xe cơ giới bên trái Quốc lộ 1A theo hướng thành phố Hồ Chí Minh đi Bình Thuận, gây tai nạn giao thông, dẫn đến anh Trì Quốc T chết tại Bệnh viện C.

Tài liệu chứng cứ thu thập hoàn toàn khách quan, đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hành vi của bị cáo Phan Quang S đã vi phạm vào khoản 8, 9, 23 Điều 8 và khoản 2 Điều 30 của Luật Giao thông đường bộ; khoản 6 Điều 5 và khoản 1 Điều 35 của Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phan Quang S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51. Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Quang S từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Đối với ông Nguyễn Đắc N, điều khiển xe mô tô biển số 60B5-006.99 chuyển hướng qua phần đường xe cơ giới bên trái Quốc lộ 1A theo hướng đi, đã đảm bảo an toàn nên ông Nguyễn Đắc N không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông. Quá trình điều tra, xác định ông Nguyễn Đắc N không có giấy phép lái xe theo quy định và trong máu có nồng độ cồn, đã vi phạm vào khoản 8, 9 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ nhưng đây không phải nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn.

Đối với anh Phạm Ngọc G là chủ sở hữu xe mô tô biển số 60H5-143.30 nhưng anh Phạm Ngọc G không biết bị cáo Phan Quang S sử dụng xe mô tô trên và không có giấy phép lái xe theo quy định nên anh Phạm Ngọc G không có lỗi.

Bị cáo Phan Quang S tự bào chữa: bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thống nhất với bản cáo trạng, ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình trái với quy định pháp luật, bị cáo phạm tội lần đầu nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang là người đại diện hợp pháp của bị hại anh Trì Quốc T trình bày: Gia đình bà đã nhận số tiền bồi thường 40.000.000 đồng của gia đình bị cáo Phan Quang S, bà và ông Trì Văn N không yêu cầu gì khác, quá trình điều tra bà và ông Trì Văn N đã thống nhất làm đơn bãi nại đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Sự việc xảy ra không ai mong muốn nên bà đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ông Nguyễn Đắc N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: ông là chủ xe mô tô biển số 60B5-006.99, ông quan sát kỹ trước khi qua đường, nhưng do bị cáo điều khiển xe chạy tốc độ nhanh không xử lý được nên dẫn đến tai nạn. Quá trình điều tra, ông đã nhận lại xe mô tô và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tại phiên toà, ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Anh Phạm Ngọc G là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình điều tra thể hiện anh Phạm Ngọc G là chủ xe mô tô biển số 60H5-143.30 nhưng không biết bị cáo không có giấy phép lái xe và cũng không trực tiếp giao xe cho bị cáo sử dụng, anh Phạm Ngọc G đã nhận lại xe mô tô và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Phan Quang S điều khiển xe mô tô biển số 60H5-143.30 có dung tích xi lanh 149cm3 lưu thông trên đường nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định, có nồng độ còn trong máu, bị cáo không tuân thủ các nguyên tắc an toàn giao thông, không đội mũ bảo hiểm, chở theo anh Trì Quốc T cũng không đội mũ bảo hiểm, bị cáo điều khiển xe không làm chủ được tay lái và tốc độ, khi gặp tình huống xe mô tô do ông Nguyễn Đắc N điều khiển chuyển hướng sang đường nên bị cáo không xử lý được dẫn đến va chạm gây tai nạn giao thông. Hành vi của bị cáo Phan Quang S đã vi phạm khoản 8, 9, 23 Điều 8 và khoản 2 Điều 30 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008, gây hậu quả anh Trì Quốc T là người ngồi sau xe mô tô do bị cáo Phan Quang S điều khiển chết. Hành vi của bị cáo Phan Quang S đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Đối với ông Nguyễn Đắc N, điều khiển xe mô tô biển số 60B5-006.99 chuyển hướng qua phần đường đảm bảo an toàn nên ông Nguyễn Đắc N không có lỗi, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Nguyễn Đắc N là phù hợp.

Đối với anh Phạm Ngọc G là chủ sở hữu xe mô tô biển số 60H5-143.30 nhưng anh Phạm Ngọc G không biết bị cáo Phan Quang S sử dụng xe mô tô trên và không có giấy phép lái xe theo quy định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Phạm Ngọc G là phù hợp.

Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là công dân có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được việc điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50cm3 trở lên phải có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, điều khiển xe mà có nồng độ cồn trong máu là hành vi bị nghiêm cấm, vậy mà bị cáo vẫn điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường, khi tham gia giao thông bị cáo không tuân thủ các nguyên tắc an toàn giao thông, dẫn đến tai nạn gây hậu quả làm chết người. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng của người khác. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả. Cha bị cáo mất sớm, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Quá trình điều tra, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại phiên toà, đại diện hợp pháp của bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên quyết định mức hình phạt tù đối với bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo quy định tại Điều 54 của Bộ luật Hình sự là đủ nghiêm.

Về vật chứng vụ án:

Đối với xe mô tô biển số 60H5-006.99 và xe mô tô biển số 60H5-143.30, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc đã trao trả lại các phương tiện trên cho các chủ sở hữu là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Phan Quang S và gia đình đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình anh Trì Quốc T số tiền 40.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của anh Trì Quốc T đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét giải quyết. Ông Nguyễn Đắc N và anh Phạm Ngọc G không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phan Quang S phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: bị cáo Phan Quang S 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2022.

- Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phan Quang S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Phan Quang S, đại diện hợp pháp của bị hại và ông Nguyễn Đắc N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Ngọc G được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ